vanban.org

Bản án 13/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Ông Lâm T K được ly hôn với bà Tăng T H.

Về con chung: Không có. Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu, nên không đặt ra xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân gia đinh"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Ông Lâm T K được ly hôn với bà Tăng T H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỸ XUYÊN
TỈNH SÓC TRĂNG
——————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 10-4-2019
“V/v ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ XUYÊN, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhiện.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lâm Thị Tám.

2. Ông Lương Minh Suốt.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện Mỹ Xuyên tham gia phiên toà: Ông Đoàn Văn Khải - Kiểm sát viên.

Trong ngày 10 tháng 4 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 277/2018/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2018 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Lâm T K, sinh năm 1988(Có mặt).

Địa chỉ: Số 189 ấp K, xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.

- Bị đơn: Bà Tăng T H, sinh năm 1988(Vắng mặt).

Địa chỉ: Số 28/2 ấp K, xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện về việc ly hôn ngày 26 tháng 10 năm 2018, tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay nguyên đơn ông Lâm T K trình bày:

Ông và bà Tăng T H kết hôn năm 2012 có đăng ký kết hôn tại UBND xã Thạnh Phú, huyện Mỹ Xuyên vào năm 2013. Sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc được 2 năm thì phát sinh mâu thuẫn do sau khi kết hôn vợ ông thường đi vắng nhà có khi đi cả năm mới về, ông đã khuyên vợ nên ở nhà lo làm ăn chăm lo cuộc sống gia đình nhưng vợ ông không nghe từ đó cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, dẫn đến ông và bà Hà đã sống ly thân cùng nhau từ tháng 6 năm 2016 cho đến nay. Xét thấy cuộc sống hôn nhân kéo dài cũng không có hạnh phúc nên ông yêu cầu được ly hôn với bà Tăng T H.

Về con chung: Không có con chung.

Tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nợ chung: Không có.

Đối với bị đơn bà Tăng T H: Toà án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử theo trình tự thủ tục tố tụng dân sự, nhưng bà H vắng mặt cũng không có ý kiến gì đối với việc ông K xin ly hôn.

Tại phiên tòa hôm nay kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý, xét xử vụ án thì thẩm phán, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; phía bị đơn chưa thực hiện và chấp hành đúng quy định pháp luật do vắng mặt không có lý do tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, phiên hòa giải; Bà Tăng T H đã được cấp tống đạt các văn bản tố tụng theo trình tự thủ tục tố tụng dân sự, bà Hà đã được triệu tập xét xử đến lần thứ hai nhưng bà vẫn vắng mặt đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 tiến hành xét xử vắng mặt bà Tăng T H.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho ông Lâm T K được ly hôn với bà Tăng T H. Về con chung: Không có. Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu, nên không đặt ra xem xét;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Bà Tăng T H đã được cấp tống đạt các văn bản tố tụng theo trình tự thủ tục tố tụng dân sự, bà Hà đã được triệu tập xét xử đến lần thứ hai nhưng bà vẫn vắng mặt, áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bà Tăng T H.

Về quan hệ hôn nhân: Ông Lâm T K và bà Tăng T H cưới nhau năm 2012 tự nguyện đăng ký kết hôn và được UBND xã Thạnh Phú, huyện Mỹ Xuyên cấp giấy chứng nhận kết hôn số 44/2013 ngày 27/02/2013 nên quan hệ hôn nhân giữa ông Lâm T K và bà Tăng T H là hôn nhân hợp pháp.

Xét lý do yêu cầu ly hôn của ông Lâm T K, Hội đồng xét xử thấy rằng, sau khi kết hôn thì ông K, bà H sống hạnh phúc được

một thời gian thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bà H thường xuyên vắng mặt tại nhà, không chăm lo được cho cuộc sống gia đình dẫn đến vợ chồng chung sống không có hạnh phúc từ đó ông K và bà H sống ly thân từ tháng 6 năm 2016 cho đến nay. Hội đồng xét xử xét thấy hôn nhân giữa ông K và bà H đã phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn được, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Lâm T K.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu, nên không đặt ra xem xét.

Về nợ chung: Không có.

Lời đề nghị của kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí sơ thẩm áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; ông Lâm T K phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 4 điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Áp dụng khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Lâm T K được ly hôn với bà Tăng T H.

2. Về con chung: Không có.

3. Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu, nên không đặt ra xem xét.

4. Nợ chung: Không có.

5.Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Ông Lâm T K phải

ông Kiệt đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0005281 ngày 03/12/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỹ Xuyên, ông K đã nộp xong.

Báo cho các đương sự biết được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đối với các đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo được tính kể ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai nơi cư trú, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án, thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ