vanban.org

Bản án 13/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!
HUYỆN!ĐÔNG!HÒA!
TỈNH!PHÚ!YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 09 - 7 - 2019.
Về việc tranh chấp: Xin ly hôn.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm"phán"-"Chủ"tọa"phiên"tòa: !Bà Lê Thanh Huệ.
Các"Hội"thẩm nhân"dân:
1. Ông Trần Hạnh;
2. Bà Trần Thị Thu Ba.
Đông Hòa, tỉnh Phú Yên.
tòa: Ông Dương Thanh Nhuận– Kiểm sát viên.
thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 266/2017/TLST- HNGĐ
ngày 14 tháng 12 năm 2017 về tranh chấp “Xin"ly"hôn”,"theo quyết định đưa vụ
án ra xét xử số 11/2019/QĐXX- ST ngày 10 tháng 5 năm 2019; giữa các đương
sự:
tỉnh Phú Yên – Có mặt.
Phú Yên – Có mặt.
-"Người"có"quyền"lợi"nghĩa"vụ"liên"quan:
1."Ông V – sinh năm: 1954 – Có mặt;
2."Bà C – sinh năm: 1954 – Có mặt;
3."Anh P – sinh năm: 1984 – Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt;
4. Chị H – sinh năm: 1982 – Có mặt;
Cùng địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Yên;
5."Ngân hàng C;
Địa chỉ: Tòa nhà A, khu bán đảo L, Hà Nội;
hàng C – Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!

*"Nguyên"đơn"anh"L,"bị"đơn"chị"T"trình"bày:"

- Về quan hệ hôn nhân: Anh L và chị T kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào

năm 2010, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Yên. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị T, anh L sống hạnh phúc một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, Thường xuyên cãi vã. Mâu thuẫn đã được gia đình hai bên hòa giải nhưng không được và từ tháng 9 năm 2017, hai bên tự sống xa nhau, không ai còn quan tâm đến ai. Nay, anh L nhận thấy tình cảm đã hết nên xin được ly hôn chị T; chị T thống nhất ly hôn.

- Về con chung: Hai bên thống nhất khai không có con chung.

- Tài sản chung: Hai bên thống nhất khai có ngôi nhà xây dựng trên đất có

nguồn gốc của cha mẹ anh L là ông V, bà C. Anh L yêu cầu chia ngôi nhà, anh xin nhận nhà, trả chị T ½ giá trị; đất trả lại cho ông V, bà C.

Chị T khai phần đất xây dựng nhà nói trên đã được ông V, bà C cho nên

là tài sản của vợ chồng, vì vậy yêu cầu chia hai nhà đất, giao cho anh L sở hữu, sử dụng, trả chị T ½ giá trị.

- Về nợ: Hai bên thống nhất có nợ của Ngân hàng C số tiền vốn vay:

32.000.000đ (Ba"mươi"hai"triệu"đồng) và lãi phát sinh, thống nhất chia hai số nợ này. Ngoài ra, chị T, anh L có cho vợ chồng chị H, anh P vay số tiền 10.000.000đ (Mười"triệu"đồng) nhưng anh P, chị H đã trả, các bên đã tự phân chia xong nên không yêu cầu gì.

*"Người"có"quyền"lợi"nghĩa"vụ"liên"quan"ông"V,"bà"C"trình"bày:"

"

Nguyên ông V, bà C có đất tại thôn P, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Yên. Đất

có số thửa 217, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng số BC 232981 do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp ngày 18/5/2011 cho ông V, bà C, hiện đã tách thành 03 thửa là thửa số 388, 389, 390. Ông V, bà C đã cho thửa 389, 390 cho 02 con gái, mỗi người một thửa; còn thửa số 388, có diện tích 1311m2 thuộc quyền sử dụng của ông V, bà C. Năm 2015, ông V, bà C thống nhất để anh L, chị T xây dựng nhà trên thửa số 388 nói trên. Ông V, bà C chỉ cho xây nhà để ở, không cho luôn. Nay, chị T cho rằng đất đã được ông V, bà C cho chị T, anh L là không đúng.

Tại phiên tòa, ông V, bà C khai lúc đầu thống nhất cho phần đất này cho

vợ chồng anh L, chị T nhưng vì hai bên không chung sống cùng nhau nên không thống nhất cho. Do đó, ông V, bà C không chấp nhận yêu cầu của chị T, yêu cầu chị T, anh L phải trả lại toàn bộ đất cho ông bà.

*"Người"có"quyền"lợi"nghĩa"vụ"liên"quan"anh"P,"chị"H"trình"bày: Chị H,

anh P có nhờ chị T, anh L vay số tiền 10.000.000đ (Mười"triệu"đồng), nhưng hiện nay đã trả cho chị T, anh L nên không yêu cầu gì.

*"Người"có"quyền"lợi"nghĩa"vụ"liên"quan"đại"diện"Ngân"hàng"trình"bày:"

Vào ngày 11/3/2017, vợ chồng anh L, chị T do chị T đại diện có vay của

Ngân hàng C theo chương trình hộ mới thoát nghèo số tiền: 20.000.000đ (Hai" mươi" triệu" đồng), thời hạn trả cuối cùng là ngày 11/3/2020, lãi suất 0,6875%/tháng. Ngày 28/7/2015, chị T, anh L vay số tiền: 12.000.00đ (Mười"hai" triệu"đồng) theo chương trình nước sạch vệ sinh môi trường, thời hạn trả cuối cùng là ngày 11/7/2020, lãi suất 0,75%/tháng. Tổng cộng, đã vay: 32.000.000đ (Ba"mươi"hai"triệu"đồng). Đến nay, anh L, chị T còn nợ tiền vốn: 32.000.000đ (Ba"mươi"hai"triệu"đồng)" và lãi tính đến ngày xét xử: 2.978.094đ (Hai"triệu"chín" trăm" bảy" mươi" tám" nghìn" không" trăm" chín" mươi" bốn" đồng); tổng cộng: 34.978.094đ (Ba"mươi"bốn"triệu"chín"trăm"bảy"mươi"tám"nghìn"không"trăm"chín" mươi"bốn"đồng)."

Nay, Ngân hàng yêu cầu anh L, chị T phải trả số tiền: 34.978.094đ (Ba"

mươi"bốn"triệu"chín"trăm"bảy"mươi"tám"nghìn"không"trăm"chín"mươi"bốn"đồng)" nói trên. Ngoài ra, không yêu cầu gì khác.

"

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hòa tham gia phiên tòa phát

biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và việc giải quyết vụ án:

+Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự:

Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm xét xử,

Thẩm phán đã xác định đúng mối quan hệ tranh chấp, xác định đúng tư cách pháp lý của các đương sự, chấp hành đúng trình tự, thủ tục thu thập tài liệu, chứng cứ, thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, T ký cũng đã chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ pháp luật quy định.

+ Việc giải quyết vụ án:

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận sự thuận tình ly hôn của các đương

sự. Về con chung: Các đương sự khai không có con chung nên không xét. Tài sản chung: Đối với nhà, vật kiến trúc xây dựng trên đất: Thống nhất sự thỏa thuận của các đương sự: Giao anh L sở hữu toàn bộ nhà, vật kiến trúc, trả chị T ½ giá trị. Đối với đất xây dựng nhà: Xác định đất là tài sản chung của chị T, anh L, không chấp nhận yêu cầu đòi lại đất của ông V, bà C. Tuy nhiên, đất có nguồn gốc của cha mẹ anh L cho nên đề nghị xem xét công sức đóng góp của các bên để phân chia theo quy định. Về nợ: chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Buộc chị T, anh L phải trả cho Ngân hàng C số tiền: 32.000.000đ (Ba"mươi"hai"triệu"đồng) gốc và lãi đến ngày xét xử: 2.978.094đ (Hai"triệu"chín"trăm"bảy"mươi"tám"nghìn"không"trăm"chín"mươi" bốn"đồng). Đối với khoản nợ mà chị H, anh P nợ chị T, anh L: Các bên đã tự trả và phân chia xong, không yêu cầu gì nên không xét. Các đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

!

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:

Qua xem xét các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại

phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh P, đại

diện Ngân hàng C vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt. Áp dụng Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh P, đại diện Ngân hàng C.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh L và chị T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có

đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Yên vào ngày 21 tháng 12 năm 2010, nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Trong quá trình chung sống, vợ chồng chị T, anh L có mâu thuẫn do bất

đồng quan điểm, Thường xuyên cãi vã. Sự việc kéo dài và từ tháng 9/2017, chị T, anh L tự sống xa nhau, không ai còn quan tâm đến ai. Như vậy, mâu thuẫn giữa chị T, anh L đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chấp nhận sự thuận tình ly hôn của chị T, anh L.

[3] Con chung: Chị T, anh L thống nhất khai không có con chung nên

không xét.

[4] Tài sản chung: Hai bên thống nhất khai có ngôi nhà xây dựng trên đất

có nguồn gốc của cha mẹ anh L là ông V, bà C. Anh L yêu cầu chia ngôi nhà, còn đất thì trả lại cho ông V, bà C. Chị T yêu cầu chia hai nhà đất, vì đất đã được ông V, bà C cho, yêu cầu giao nhà, đất cho anh L sở hữu, sử dụng, trả chị ½ giá trị. Ông V, bà C yêu cầu chị T, anh L trả lại toàn bộ đất xây dựng nhà lại cho ông bà.

Hội đồng xét xử xét:

- Đối với đất:

Năm 2015, ông V, bà C đã thống nhất cho chị T, anh L xây dựng nhà kiên

cố trên một phần đất của ông bà. Ngôi nhà của anh L, chị T được xây dựng sát hàng rào phía đông của thửa đất (Giáp"đất"ông"B), phía tây ngôi nhà (Phần"giáp" với"diện"tích"đất"còn"lại"của"ông"V,"C) có một chân móng xây bằng đá các loại do chị T, anh L xây dựng. Như vậy, ngôi nhà của anh L, chị T được xây dựng độc lập, có khuôn viên riêng. Mặt khác, tại phiên tòa, ông V, bà C thừa nhận lúc đầu thống nhất cho phần đất này cho anh L, chị T nhưng vì hai bên không còn chung sống nên không thống nhất cho. Vì vậy, đủ C sở xác định ông V, bà C cho phần diện tích đất này cho anh L, chị T là sự thật. Do đó, không chấp nhận yêu cầu đòi lại đất của ông V, bà C; chấp nhận yêu cầu của chị T: Xác định diện tích đất nói trên là tài sản chung của chị T, anh L. Tuy nhiên, diện tích đất này có nguồn gốc của cha mẹ anh L nên khi phân chia xét công sức của anh L nhiều hơn phần của chị T để chia theo quy định.

Qua xem xét, đo đạc, đất có tổng diện tích 147,2m2, loại đất HNK thuộc

thửa đất số 388, tờ bản đồ địa chính số 95B đã được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng số BC 232981, vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 00079 ngày 18/5/2011 cho ông V, bà C. Đất trị giá: 110.000.000đ!(Một"trăm" mười"triệu"đồng). Diện tích đất có nguồn gốc của cha mẹ anh L nên xét công sức của anh L nhiều hơn; cụ thể: phần anh L được hưởng: 65.000.000đ (Sáu"mươi" lăm" triệu" đồng), phần chị T được hưởng: 45.000.000đ (Bốn" mươi" lăm" triệu" đồng) là phù hợp. Giao anh L sử dụng đất, có trách nhiệm trả chị T: 45.000.000đ (Bốn"mươi"lăm"triệu"đồng).

- Đối với nhà, vật kiến trúc xây dựng trên đất:

Hội đồng định giá đã xác định nhà, vật kiến trúc xây dựng trên đất như

sau:

+ Nhà 01 tầng, móng đá, tường gạch, mái ngói, có sê nô BTCT cao 3,2 m;

diện tích 35.775 m2; trị giá: 70.778.084!đồng;!

+ Nhà 01 tầng, móng đá, tường gạch, mái tôn, cao 2,3 m; diện tích 33,239

m2; trị giá: 59.372.379!đồng;!

+ Chái tạm, nền xi măng, mái tôn, diện tích 14.681m2; trị giá: 5.138.350!

đồng;!

+ Khối xây gạch ống (02 trụ cổng), diện tích: 0.598m3; trị giá: 433.122!

đồng;

+ Khối xây gạch ống (lan can), diện tích: 0.535m3; trị giá: 387.088!đồng;!

+ Lát gạch ceramic 40x40, diện tích: 64.287m2; trị giá: 9.133.904!đồng;

+ Lát gạch ceramic 30x30, diện tích: 35.540m2; trị giá: 5.249.258!đồng;!

+ Ốp gạch ceramic, diện tích: 12.032m2; trị giá: 2.265.626!đồng.

Tổng giá trị vật kiến trúc xây dựng trên đất:!152.757.811!đồng!(Một trăm

năm mươi hai triệu bảy trăm năm mươi bảy nghìn tám trăm mười một đồng).

Các đương sự thống nhất giao anh L sở hữu toàn bộ nhà, vật kiến trúc xây

dựng trên đất, trả chị T ½ giá trị. Xét sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, phù hợp quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên ghi nhận: Giao anh L sở hữu toàn bộ nhà, vật kiến trúc xây dựng trên đất, trả chị T ½ giá trị.

[5] Về nợ:

Các đương sự thống nhất có nợ của Ngân hàng C số tiền vốn vay:

32.000.000đ (Ba"mươi"hai"triệu"đồng) và lãi đến ngày xét xử: 2.978.094đ (Hai" triệu" chín" trăm" bảy" mươi" tám" nghìn" không" trăm" chín" mươi" bốn" đồng), thống nhất chia hai số nợ. Xét sự thỏa thuận là tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên ghi nhận.

Đối với việc vợ chồng chị H, anh P nợ tiền của chị T, anh L: Các đương

sự thống nhất chị H, anh P đã trả và chị T, anh L đã phân chia xong, không yêu cầu gì nên không xét. "

[6] Anh L là người nhận tài sản nên để thuận lợi cho việc trả nợ, bảo đảm

quyền, lợi ích hợp pháp cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, giao anh L trả toàn bộ nợ chung, tính trừ vào tài sản được nhận, còn lại chia trả ½ cho chị T.

Như vậy, sau khi trả nợ cho Ngân hàng, anh L có trách nhiệm trả chênh

lệch tài sản cho chị T số tiền: 103.889.858đ (Một"trăm"lẻ"ba"triệu"tám"trăm"tám" mươi" chín" nghìn" tám" trăm" năm" mươi" tám" đồng), quy tròn số: 103.890.000đ! (Một trăm lẻ ba triệu tám trăm chín mươi nghìn đồng).

[7] Về án phí Dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn anh L phải chịu án phí dân sự

sơ thẩm về yêu cầu xin ly hôn là 300.000đ; án phí về tài sản được hưởng: 6.194.500đ; án phí về nợ chung là 874.452đ; tổng cộng: 7.368.952đ, quy tròn số: 7.368.000đ (Bảy"triệu"ba"trăm"sáu"mươi"tám"nghìn"đồng)."

Chị T phải chịu án phí về tài sản được hưởng: 5.194.500đ, án phí về nợ

chung: 874.452đ; tổng cộng: 6.068.952đ, quy tròn số: 6.068.000đ (Sáu" triệu" không"trăm"sáu"mươi"tám"nghìn"đồng)."

"

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông V và bà C phải chịu: 300.000đ

(Ba"trăm"nghìn"đồng)."

"

[8] Chi phí định giá tài sản: Tổng chi phí định giá là 5.000.000đ, Anh L,

chị T, mỗi người phải chịu 2.500.000đ (Hai"triệu"năm"trăm"nghìn"đồng)."Chị T, anh L đã nộp xong.

Vì"các"lẽ"trên;

QUYẾT!ĐỊNH:!

Căn cứ Điều 147, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55, 59, 60, 62,

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 9, 26, 27 Nghị quyết 326 của Ủy ban Tờng vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Quan hệ hôn nhân: Chấp nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh L và chị T.

2. Tài sản chung và nợ:

* Giao cho anh L được sử dụng diện tích đất và sở hữu toàn bộ nhà, vật

kiến trúc xây dựng trên đất, cụ thể như sau:

- Giao anh L được sử dụng diện tích đất: 147,2m2, loại đất HNK thuộc

một phần của thửa đất số 388, tờ bản đồ địa chính số 95B, đã được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BC 232981, vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 00079 ngày 18/5/2011 cho ông V, bà C, tọa lạc tại thôn P, xã Hòa H, huyện Đ, tỉnh Phú Yên; có giới cận: Phía nam giáp đường đi, phía bắc giáp đất ông V, bà C, phía đông giáp đất ông B, phía tây giáp đất ông V, bà C. Đất trị giá: 110.000.000đ!(Một trăm mười triệu đồng).

(Có"sơ"đồ"kèm"theo).

Anh L có trách nhiệm liên hệ các cơ quan có thẩm quyền để đăng ký kê khai

theo quy định.

- Giao cho anh L được sở hữu toàn bộ nhà, vật kiến trúc xây dựng trên đất nói trên như sau:

+ Nhà 01 tầng, móng đá, tường gạch, mái ngói, có sê nô BTCT cao 3,2 m;

diện tích 35.775 m2; trị giá: 70.778.084!đồng;!

+ Nhà 01 tầng, móng đá, tường gạch, mái tôn, cao 2,3 m; diện tích 33,239

m2; trị giá: 59.372.379!đồng;!

+ Chái tạm, nền xi măng, mái tôn, diện tích 14.681m2; trị giá: 5.138.350!

đồng;!

+ Khối xây gạch ống (02 trụ cổng), diện tích: 0.598m3; trị giá: 433.122!

đồng;

+ Khối xây gạch ống (lan can), diện tích: 0.535m3; trị giá: 387.088!đồng;!

+ Lát gạch ceramic 40x40, diện tích: 64.287m2; trị giá: 9.133.904!đồng;

+ Lát gạch ceramic 30x30, diện tích: 35.540m2; trị giá: 5.249.258!đồng;!

+ Ốp gạch ceramic, diện tích: 12.032m2; trị giá: 2.265.626!đồng.

Tổng giá trị vật kiến trúc xây dựng trên đất:!152.757.811!đồng!(Một trăm

năm mươi hai triệu bảy trăm năm mươi bảy nghìn tám trăm mười một đồng).

Toàn bộ tài sản trên anh L đã quản lý.

* Anh L có trách nhiệm trả cho Ngân hàng C số tiền vốn vay:

32.000.000đ (Ba"mươi"hai"triệu"đồng) và lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (Ngày" 09/7/2019): 2.978.094đ (Hai" triệu" chín" trăm" bảy" mươi" tám" nghìn" không"trăm" chín"mươi" bốn"đồng); tổng cộng: 34.978.094đ (Ba mươi bốn triệu chín trăm bảy mươi tám nghìn không trăm chín mươi bốn đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, anh L còn phải tiếp tục chịu

khoản tiền lãi quá hạn của số tiền chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà anh L phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

* Anh L phải trả chênh lệch tài sản cho chị T số tiền: 103.890.000đ (Một

trăm lẻ ba triệu tám trăm chín mươi nghìn đồng).

"

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn

yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông V, bà C về việc yêu cầu chị

T, anh L trả lại đất.

"

4. Án phí dân sự sơ thẩm:

+ Nguyên đơn anh L phải chịu: 7.368.000đ (Bảy"triệu"ba"trăm"sáu"mươi"

tám"nghìn"đồng). Số tiền này được khấu trừ vào 1.000.000đ (Một" triệu"đồng)" tiền tạm ứng án phí mà anh L đã nộp tại phiếu thu số 0004071 ngày 13/12/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên. Như vậy, anh L còn phải nộp: 6.368.000đ (Sáu"triệu"ba"trăm"sáu"mươi"tám"nghìn"đồng); "

"

+ Chị T phải chịu: 6.068.000đ (Sáu"triệu"không"trăm"sáu"mươi"tám"nghìn"

đồng);"

"

+ Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông V và bà C phải chịu:

300.000đ (Ba"trăm"nghìn"đồng). Số tiền này được khấu trừ vào 300.000đ (Ba" trăm"nghìn"đồng)"tiền tạm ứng án phí mà ông V, bà C đã nộp tại phiếu thu số 0008827 ngày 02/5/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên. Như vậy, ông V, bà C đã nộp xong.

"

5. Chi phí định giá tài sản: Tổng chi phí định giá là 5.000.000đ (Năm"triệu"

đồng). Anh L, chị T, mỗi người phải chịu 2.500.000đ (Hai"triệu"năm"trăm"nghìn" đồng)."Chị T, anh L đã nộp xong.

Trường"hợp"bản"án"được"thi"hành"theo"quy"định"tại"Điều"2"Luật"Thi"hành"

án"dân"sự"thì"người"được"thi"hành"án"dân"sự,"người"phải"thi"hành"án"dân"sự"có" quyền"thoả"thuận"thi"hành"án,"quyền"yêu"cầu"thi"hành"án,"tự"nguyện"thi"hành"án" hoặc"bị"cưỡng"chế"thi"hành"án"theo"quy"định"tại"các"Điều"6,"7"và"9"Luật"Thi" hành"án"dân"sự;"Thời"hiệu"thi"hành"án"được"thực"hiện"theo"quy"định"tại"Điều"30" Luật"thi"hành"án"dân"sự."

Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại

phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo

trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

TM/!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM!

Cỡ chữ