vanban.org

Bản án 13/2019/DS-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Quảng Trị Tuyên án 28/03/2019 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 28/03/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là những người ở hàng thừa kế thứ nhất của ông Hồ Văn M: Buộc Ông Nguyễn T và Bà Lê Thị H phải thu dọn toàn bộ cây cối, tài sản trên đất (nếu có) để trả lại cho nguyên đơn là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Hồ Văn M 02 th…

Thửa đất số 14, tờ bản đồ số 04 tại Thôn C, xã T, huyện H, tỉnh Q, có diện tích 5.158m2, có vị trí: Phía Bắc giáp đường đi dài 9,58m+25,06m+23,29m; Phía Nam giáp đất ông Nguyễn Cửu Hiển dài 55,94m; Phía Đông giáp đất ông Lương Tân dài 88,15m; Phía Tây giáp đất ông Nguyễn Phương và ông Lê Quang Lợi đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp quyền sử dụng đất"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là những người ở hàng thừa kế thứ nhất của ông Hồ Văn M: Buộc Ông Nguyễn T và Bà Lê Thị H phải thu dọn toàn bộ cây cối, tài sản trên đất (nếu có) để trả lại cho nguyên đơn là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Hồ Văn M 02 th…
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 Luật Đất đai; Điều 17 Luật Đất đai
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2019/DS-PT
Ngày 28 - 3 - 2019
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Việt Trung.

Các Thẩm phán: Ông Lê Anh Dũng.

Ông Lê Thiết Hùng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Văn Linh - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Ông Lê Xuân An - Kiểm sát viên

Ngày 28 tháng 3 năm 2019, tại Hội trường Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 06/2019/TLPT-DS ngày 07 tháng 01 năm 2019 về “Tranh chấp qyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 12/2018/DSST ngày 30/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Hướng Hóa bị kháng cáo, kháng nghị.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2019/QĐPT-DS ngày 22/02/2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Hồ Văn M:

- Bà Lê Thị Thái A, sinh năm 1946; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Q(Vợ ông Hồ Văn M); có mặt.

- Chị Hồ Lê Phương L, sinh năm 1968; địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện H, tỉnh Q (Con ông Hồ Văn M); vắng mặt.

- Chị Hồ Lê Phương T, sinh năm 1970; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Q(Con ông Hồ Văn M); vắng mặt.

- Chị Hồ Lê Phương Th, sinh năm 1973; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Q(Con ông Hồ Văn M); vắng mặt.

- Chị Hồ Lê Minh Đ, sinh năm 1981; địa chỉ: Phường M, Quận P, thành phố H (Con ông Hồ Văn M); vắng mặt.

- Người đại diện theo ủy quyền của những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Hồ Văn M: Bà Lê Thị Thái A, sinh năm 1946, địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Q(Văn bản ủy quyền ngày 25/4/2016); có mặt.

2 Bị đơn:

- Ông Nguyễn T, sinh năm 1961; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Q; có mặt.

- Bà Lê Thị H, sinh năm 1965; địa chỉ: Thôn V, xã T, huyện H, tỉnh Q; có mặt.

3. Người kháng cáo: Ông Nguyễn T - Bị đơn.

4. Kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện đề ngày 04 tháng 5 năm 2016, Biên bản hòa giải các ngày 04/8/2016, ngày 26/12/2016, ngày 27/9/2018, đơn sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện ngày 03 tháng 9 năm 2018 và tại phiên tòa, nguyên đơn Bà Lê Thị Thái A đồng thời là người đại diện theo ủy quyền trình bày: Vào năm 1987, gia đình bà từ thành phố Nha Trang đến Thôn C, xã T, huyện H, tỉnh Q để xây dựng kinh tế mới. Được sự quan tâm hỗ trợ của chính quyền địa phương, chồng Bà Lê Thị Thái A là ông Hồ Văn M được Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Q giao cho 24,3ha đất theo Quyết định số 93/QĐ ngày 22 tháng 4 năm 1994 tại xã T để bảo vệ và phát triển rừng, xây dựng kinh tế. Trong đó đất để trồng rừng là 04 ha, đất để trồng cây công nghiệp và lương thực là 16,1ha, đất lập vườn là 2,8ha và đất chăn nuôi khác là 1,4ha; vị trí lô đất phía Bắc giáp đất trồng Trẫu của Hợp tác xã nông nghiệp xã Tân Liên, phía Nam giáp khu dân cư thôn Vân Hòa, phía Đông giáp suối thủy điện Khe Sanh, phía Tây giáp đất hộ gia đình xã T(xí nghiệp cũ), thời gian sử dụng là 50 năm. Năm 1996 ông T và bà H tự ý lấn chiếm đất và trồng cây cà phê chè tại thửa số 14, tờ bản đồ số 04, diện tích 5.158m2 thuộc thôn C7, xã T, huyện H và sau đó tiếp tục lấn chiếm và trồng cây cà phê chè trên thửa đất số 119, tờ bản đồ số 06, diện tích 5.767m2 thuộc thôn V, xã T, huyện H. Gia đình Bà Lê Thị Thái A đã nhiều lần yêu cầu ông T và bà H trả lại các lô đất có diện tích đất nói trên nhưng ông T và bà H không trả. Nay những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Hồ Văn M khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Hướng Hóa giải quyết buộc ông T và bà H phải thu dọn toàn bộ tài sản trên đất để trả lại cho gia đình Bà Lê Thị Thái A 5.158m2 đất tại thửa đất số 14, tờ bản đồ số 04 thuộc Thôn C, xã T, huyện H, tỉnh Q và 5.767m2 đất tại thửa đất số 119, tờ bản đồ số 6 thuộc Thôn V, xã T, huyện H, tỉnh Q.

Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện, nguyên đơn Bà Lê Thị Thái A nộp cho Tòa án các tài liệu, chứng cứ gồm: Biên bản quy hoạch vùng đất trồng cà phê xuất khẩu năm 1988; Quyết định số 93/QĐ ngày 22 tháng 4 năm 1994 của Ủy ban nhân dân huyện H; Biên bản xác minh về việc thực trạng vùng trồng rừng cây công nghiệp của Công ty Trách nhiệm hữu hạn M ngày 19/10/1995; Giấy chứng tử của ông Hồ Văn M; Đơn xác nhận ngày 06/11/2012 của Bà Lê Thị Thái A về việc xác nhận những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Hồ Văn M; Giấy ủy quyền ngày 25/4/2016; Trích đo bản đồ địa chính khu đất ngày 23/8/2010; Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty Trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên; Biên bản xác định ranh giới vùng đất đồi yên ngựa năm 1996; Thống kê diện tích đất các hộ chiếm dụng đất của Công ty Trách nhiệm hữu hạn M; Đơn của bà Đinh Thị Nhẫn gửi cho Công ty Minh Đ ngày 08/01/2001 báo cáo thực hiện kế hoạch sản xuất của công ty trên diện tích đất được quyền sở hữu; Biên bản về việc đất của Công ty Trách nhiệm hữu hạn cà phê M bị xâm lấn và chặt phá cây cối năm 1999 của Ban công an xã T, huyện H; Biên bản kiểm tra hiện trạng sử dụng đất của Công ty Trách nhiệm hữu hạn M năm 2000; Biên bản về việc giải quyết các hộ dân xâm lấn đất Công ty Trách nhiệm hữu hạn M năm 2010 của Ủy ban nhân dân xã Tân Liên; Thông báo kết quả giải quyết tranh chấp đất đai năm 2010 của Phòng tài nguyên và môi trường huyện Hướng Hóa; Công văn số 25/TNMT-CV ngày 04/7/2011 của phòng tài nguyên và môi trường huyện Hướng Hóa về việc đề nghị Tòa án nhân dân huyện giải quyết vụ tranh chấp đất đai giữa Công ty Trách nhiệm hữu hạn M và 7 hộ dân ở xã Tân Liên; Đơn xác nhận diện tích đất ngày 10/7/2014 của Bà Lê Thị Thái A; Giấy trả lời ngày 08/9/2014 của sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q về việc trả lời đơn kiến nghị; Biên bản ngày 16/4/2015 của Ủy ban nhân dân xã Tvề việc thỏa thuận quyền sử dụng đất; Biên bản ngày 22/4/2015 của Ủy ban nhân dân xã Tvề việc mời các hộ sử dụng đất thỏa thuận quyền sử dụng đất lần 2; Công văn số 06/TB-UBND ngày 04/5/2015 của Ủy ban nhân dân xã Tvề việc trả lời đơn trình của công dân; Công văn số 10/TNMT-ĐĐ ngày 27/10/2015 của văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất về việc trả lời đơn kiến nghị; Biên bản ngày 22/12/2015 của Ủy ban nhân dân xã T về việc hòa giải tranh chấp đất; Bản đồ địa chính khu đất về hiện trạng sử dụng khu đất được giao theo Quyết định số 93/QĐ ngày 15/8/2018 do Phòng Tài nguyên môi trường, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H và Ủy ban nhân dân xã T đo vẽ.

Ngày 03/9/2018, Bà Lê Thị Thái A và các đồng thừa kế sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện: căn cứ kết quả đo đạc ngày 15/8/2018 thì lô đất tại thôn V, xã T, huyện H chỉ còn diện tích 5.477m2, nên bà Thái An và các đồng thừa kế chỉ yêu cầu buộc Ông Nguyễn T và Bà Lê Thị H trả lại 5.158m2 đất ở thôn C7, xã T, huyện H và 5.477m2 tại thôn V, xã T, huyện H.

Tại biên bản hòa giải các ngày 04/8/2016, ngày 26/12/2016, ngày 27/9/2018 và tại phiên tòa, ông T và bà H trình bày: Ông T không đồng ý trả lại thửa đất nói trên cho gia đình bà An bởi lẽ vào khoảng năm 1993 ông T thấy đất bỏ hoang nên đã khai hoang và trồng cây cà phê từ đó cho đến nay. Bà Lê Thị H (vợ ông T đã ly hôn) cho rằng thời điểm ông T và bà H bắt đầu khai hoang sử dụng 02 mảnh đất trên vào năm 1996 lúc đó thấy trên đất còn những gốc bạch đàn đã cưa đốn.

Quá trình giải quyết tại Tòa án, Ông Nguyễn T và Bà Lê Thị H có văn bản yêu cầu xem xét hủy Quyết định số 93/QĐ ngày 22 tháng 4 năm 1994 của Ủy ban nhân dân huyện H về việc giao cho ông Hồ Văn M 24,3ha đất tại xã T, huyện H vì cho rằng quyết định giao đất không đúng trình tự pháp luật, ông Hồ Văn M sử dụng đất không đúng mục đích.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 12/2018/DSST ngày 30/11/2018 của TAND huyện Hướng Hóa đã quyết định:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 203 Luật đất đai năm 2013; khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 105, 107, 115, 136, 166, 167, 185 của Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 27 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án ngày 27/02/2009 của UBTV Quốc hội;

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là những người ở hàng thừa kế thứ nhất của ông Hồ Văn M: Buộc Ông Nguyễn T và Bà Lê Thị H phải thu dọn toàn bộ cây cối, tài sản trên đất để trả lại cho nguyên đơn là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Hồ Văn M mảnh đất có diện tích 5.158m2 tại thửa đất số 14, tờ bản đồ số 04 tại Thôn C, xã T, huyện H, tỉnh Q và mảnh đất có diện tích 5.477m2 tại thửa đất số 119, tờ bản đồ số 06 tại Thôn V, xã T, huyện H, tỉnh Q, theo Quyết định số 93/QĐ ngày 22/4/1994 của Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Q giao cho ông Hồ Văn M 24,3ha đất. Vị trí các mảnh đất:

- Mảnh đất có diện tích 5.158m2 tại thôn C7, xã T, huyện H có vị trí: Phía Bắc giáp đường đi dài 9,58m+25,06m+23,29m; Phía Nam giáp đất ông Nguyễn Cửu Hiển dài 55,94m; Phía Đông giáp đất ông Lương Tân dài 88,15m; Phía Tây giáp đất ông Nguyễn Phương và ông Lê Quang Lợi đang sử dụng dài 57,57m+26,94m.

- Mảnh đất có diện tích 5.477m2 tại thôn V, xã T, huyện H, có vị trí: Phía Bắc giáp đất ông Trương Công M đanh sử dụng dài 27,76m+28,21m+15,88m+21,88m; Phía Nam giáp đất ông Lê Quang Cang và đất ông Nguyễn Tài đang sử dụng dài 23,56m+30,28m+8,87m+24,09m+3,70m+10,65m+10,87m; Phía Đông giáp đất Ủy ban nhân dân xã Tquản lý và đất ông Trương Công Hiếu dài 20,51m+25,05m; Phía Tây giáp đường thôn dài 56,58m.

Ngoài ra bản án còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo của các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 11/12/2018 Ông Nguyễn T kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm hủy bản án dân sự sơ thẩm số 12/2018/DSST ngày 30/11/2018 của TAND huyện Hướng Hóa với lý do:

- Gia đình ông T sử dụng 5.158m2 + 5.767m2 là đất hoang hóa, vì vậy không đồng ý với nội dung bản án tuyên trả lại đất cho bà An.

- Yêu cầu Tòa án hủy quyết định số 93/QĐ ngày 22/4/1994 của Chủ tịch UBND huyện H về việc giao cho ông Hồ Văn M 24,3ha đất là trái pháp luật, ảnh hưởng đến việc sử dụng đất của gia đình.

Ngày 12/12/2018, VKSND huyện Hướng Hóa kháng nghị tại quyết định số 318/QĐ-NPT-VKS-DS đề nghị cấp phúc thẩm hủy bản án dân sự sơ thẩm số 12/2018/DSST ngày 30/11/2018 của TAND huyện Hướng Hóa với những lý do:

- Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn yêu cầu hủy quyết định số 93/QĐ ngày 22/4/1994 của Chủ tịch UBND huyện H do giao đất không phù hợp pháp luật, ảnh hưởng đến quyền sử dụng đất của các bị đơn.

Tại biên bản làm việc ngày 10/7/2017 của TAND huyện Hướng Hóa với Phòng TNMT huyện H, đại diện Phòng TNMT đã khẳng định “Các tài liệu có trong hồ sơ giao đất gồm bản đồ quy hoạch trồng cây công nghiệp; đơn xin nhận đất rừng, đất trồng rừng; biên bản giao rừng và đất trồng rừng; biên bản quy hoạch vùng đất trồng cà phê; biên lai thu thuế sử dụng đất đều mang tên Công ty TNHH M. Nhưng khi giao đất theo quyết định số 93/QĐ ngày 22/4/1994 thì Chủ tịch UBND huyện H lại giao đất cho ông M. Như vậy, thủ tục thiết lập hồ sơ giao đất không đúng quy định của pháp luật. Bởi vì theo quy định tại khoản 1 Điều 24 Luật đất đai năm 1993 thì UBND tỉnh mới có quyền giao đất cho tổ chức; tại khoản 2 Điều 24 Luật đất đai năm 1993 thì UBND huyện giao đất cho cá nhân, hộ gia đình. Giữa thủ tục thiết lập hồ sơ giao đất với quyết định giao đất số 93/QĐ ngày 22/4/1994 cho ông Hồ Văn M không khớp nhau”.

Với những chứng cứ nêu trên, việc giải quyết vụ án có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của UBND huyện H là phải chứng minh tính hợp pháp của Quyết định số 93/QĐ ngày 22/4/1994 của Chủ tịch UBND huyện H về việc giao cho ông Hồ Văn M 24,3ha đất; kết quả xác minh phù hợp hay không phù hợp với pháp luật đều gắn liền quyền nghĩa vụ của các bên đương sự; nhưng Tòa án không đưa Ủy ban nhân dân huyện H tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là trái với quy định tại khoản 6 Điều 68 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

- Về nội dung:

+ Quyết định số 93/QĐ ngày 22/4/1994 được Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện ban hành nhưng phần ký tên, đóng dấu lại ghi thay mặt Ủy ban nhân dân huyện H là không thống nhất, vi phạm về thẩm quyền ban hành văn bản theo Điều 47 Luật tổ chức HĐND và UBND năm 1989, khoản 2 Điều 24 Luật đất đai năm 1993.

+ Quyết định ghi:“Căn cứ quyết định 327 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) ngày 15/9/1992” để giao đất cho ông Hồ Văn M là không đúng đối tượng, vì đất được Ủy ban nhân dân huyện H giao cho ông Hồ Văn M sử dụng không thuộc các loại đất mà quyết định 327 chủ trương giao.

+ Về trình tự, thủ tục giao đất: Ngoài Quyết định số 93/QĐ ngày 22/4/1994 giao cho ông M 24,3ha đất, các chứng cứ khác đều mang tên Công ty TNHH M, chưa có thủ tục giao đất trên thực địa.

Do đó, việc Chủ tịch UBND huyện H giao đất cho ông Hồ Văn M 24,3ha tại quyết định số 93/QĐ ngày 22/4/1994 là không có cơ sở; người sử dụng đất là Công ty Minh Đ là hợp pháp. Vì vậy, không có cơ sở các bị đơn lấn chiếm 10.925m2 đất của ông M để buộc trả lại. Trường hợp quyết định số 93/QĐ ngày 22/4/1994 của Chủ tịch UBND huyện H ban hành trái pháp luật thì Tòa án căn cứ Điều 34 BLTTDS năm 2015 tuyên hủy mới giải quyết vụ án khách quan, toàn diện, đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

Theo kết quả định giá tài sản, tài sản trên đất là các loại cây công nghiệp và lâm nghiệp trị giá 73.886.400đ. Trường hợp có căn cứ xác định diện tích đất tranh chấp là của nguyên đơn thì cũng cần xem xét đến số tài sản này; bản án sơ thẩm buộc các bị đơn tháo dỡ toàn bộ tài sản có trên đất là chưa phù hợp.

Quan điểm của VKSND tỉnh Quảng Trị:

- Việc tuân theo pháp luật của người tiến hành tố tụng: Thẩm phán cấp phúc thẩm đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý phúc thẩm cho đến trước khi mở phiên tòa phúc thẩm.

- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ quy định tại các Điều 70, 71, 72 BLTTDS.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 308 BLTTDS. Chấp nhận kháng cáo của Ông Nguyễn T và kháng nghị của VKSND huyện Hướng Hóa, hủy bản án dân sự sơ thẩm số 12/2018/DSST ngày 30/11/2018 của TAND huyện Hướng Hóa để xét xử lại theo hướng: Đưa UBND huyện H vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thủ tục tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm ngày 11/12/2018 Ông Nguyễn T là bị đơn kháng cáo và ngày 12/12/2018 VKSND huyện Hướng Hóa kháng nghị toàn bộ bản án số 12/2018/DS-ST ngày 30/11/2018 của TAND huyện Hướng Hóa. Kháng cáo của Ông Nguyễn T và kháng nghị của VKSND huyện Hướng Hóa trong hạn luật định, phù hợp quy định của BLTTDS, do đó Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý để xét xử theo trình tự phúc thẩm đối với kháng cáo và kháng nghị là đúng quy định.

.Về quan hệ tranh chấp: Bà Lê Thị Thái A và ông Hồ Văn M là vợ chồng. Quá trình chung sống, ông bà sinh được 04 người con là chị Hồ Lê Phương L, Hồ Lê Phương T, Hồ Lê Phương Th và Hồ Lê Minh Đ. Ngày 22/4/1994, ông Hồ Văn M được UBND huyện H giao 24,3ha đất để trồng cây công nghiệp theo quyết định số 93/QĐ. Quá trình sử dụng đất, ông M đã đưa 24,3ha đất được giao vào vốn hoạt động của Công ty TNHH M. Năm 2011 ông M chết. Đến năm 2012 các thành viên Công ty TNHH M đã thống nhất đưa toàn bộ diện tích 24,3ha đất ra khỏi vốn của công ty, do đó toàn bộ diện tích đất ông M được giao thuộc quyền sử dụng của những người trong hàng thừa kế thứ nhất của ông M. Bà Lê Thị Thái A và các con cho rằng Ông Nguyễn T và Bà Lê Thị H đã lấn chiếm thửa đất số 14, tờ bản đồ số 04 tại Thôn C, xã T, huyện H, tỉnh Q có diện tích 5.158m2 và thửa đất số 119, tờ bản đồ số 6 tại Thôn V, xã T, huyện H, tỉnh Q có diện tích 5.477m2 là các diện tích đất đều nằm trong diện tích 24,3ha đất ông M được giao năm 1994, do đó bà khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Hướng Hóa buộc ông T và bà H trả lại cho những người trong hành thừa kế thứ nhất của ông M các diện tích đất đã lần chiếm. Xét thấy, đây là tranh chấp quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 7 Điều 3, khoản 1 Điều 17, khoản 7 Điều 166 và khoản 1 Điều 203 Luật đất đai năm 2013; khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 BLTTDS, nên Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý để giải quyết vụ án theo yêu cầu khởi kiện trên của Bà Lê Thị Thái A và những người trong hàng thừa kế là đúng pháp luật.

. Xét kháng cáo của Ông Nguyễn T và kháng nghị của VKSND huyện Hướng Hóa, thấy rằng:

. Theo kháng cáo của Ông Nguyễn T thì ông T kháng cáo đề nghị hủy bản án dân sự sơ thẩm số 12/2018/DS-ST ngày 30/11/2018 của TAND huyện Hướng Hóa và hủy Quyết định số 93/QĐ ngày 22/4/1994 của UBND huyện H về việc giao cho ông Hồ Văn M 24,3ha đất vì xâm phạm đến quyền lợi của phía bị đơn. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm ông T cho rằng 02 diện tích đất nguyên đơn đang tranh chấp không nằm trong diện tích 24,3ha đất đã giao cho ông M nên ông T rút một phần kháng cáo không đề nghị cấp phúc thẩm hủy quyết định số 93/QĐ ngày 22/4/1994 của UBND huyện H. Xét thấy, việc ông T rút một phần kháng cáo là tự nguyện, không trái pháp luật nên Hội đồng xét xử đình chỉ đối với phần kháng cáo ông T đã rút.

. Xét việc không đưa UBND huyện H vào tham gia tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Ông Nguyễn T đã có đơn đề nghị TAND huyện Hướng Hóa hủy quyết định số 93/QĐ ngày 22/4/1994 về việc cấp đất cho ông M, tại phiên tòa sơ thẩm đại diện VKSND huyện Hướng Hóa đề nghị tạm ngưng phiên tòa để đưa UBND huyện H vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không đưa UBND huyện H vào tham gia tố tụng, do đó VKSND huyện Hướng Hóa cho rằng cấp sơ thẩm giải quyết vụ án là trái quy định tại khoản 6 Điều 68 BLTTDS. Xét thấy: Theo quy định tại Điều 34 BLTTDS thì trong quá trình giải quyết vụ án dân sự nếu có yêu cầu hủy quyết định cá biệt mà quyết định đó xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc mà Tòa án đang giải quyết thì Tòa án phải đưa cơ quan, tổ chức hoặc người có thẩm quyền đã ban hành quyết định tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền đã ban hành quyết định phải tham gia tố tụng và trình bày ý kiến của mình về quyết định cá biệt bị Tòa án xem xét hủy. Do đó, trong vụ án dân sự này, khi đương sự yêu cầu hủy quyết định số 93/QĐ ngày 22/4/1994 của UBND huyện H, thì Tòa án cấp sơ thẩm phải đưa UBND huyện vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để UBND huyện có ý kiến đối với việc ban hành quyết định số 93/QĐ ngày 22/4/1994, nên việc không đưa UBND huyện H vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại khoản 6 Điều 68 BLTTDS là vi phạm thủ tục tố tụng, do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hóa kháng nghị phần thủ tục này là có căn cứ. Tuy nhiên, xét thấy ông Hồ Văn M đã sử dụng đất từ năm 1988, đến năm 1994 mới có quyết định giao đất với diện tích 24,3 ha và 02 diện tích đất mà Bà Lê Thị Thái A cùng những người trong hàng thừa kế của ông M đang tranh chấp với ông T và bà H đều nằm trong tổng diện tích đất ông M được giao, các bị đơn mới sử dụng từ năm 1996 trở về sau là sau thời điểm ông M được giao đất, do đó không ảnh hưởng đến quyền lợi của các bị đơn. Theo hướng dẫn tại phần II của Giải đáp số 02/GĐ-TANDTC ngày 19/9/2016 của TAND tối cao “Giải đáp một số vấn đề về tố tụng hành chính, tố tụng dân sự” thì:“Trường hợp khi giải quyết vụ việc dân sự có liên quan đến quyết định cá biệt nhưng không cần thiết phải hủy quyết định cá biệt đó và việc không hủy quyết định đó vẫn đảm bảo giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự thì Tòa án đang giải quyết vụ việc dân sự tiếp tục giải quyết”. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh giá quyết định số 93/QĐ ngày 22/4/1994 của UBND huyện H không ảnh hưởng đến quyền lợi của các bị đơn nên không hủy quyết định số 93/QĐ ngày 22/4/1994 và không đưa UBND huyện H vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án.

. Xét việc ban hành quyết định cấp đất số 93/QĐ ngày 22/4/1994 của UBND huyện H thấy rằng:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thì ngày 16/4/1994, Công ty TNHH M do ông M làm giám đốc có đơn đề nghị UBND huyện H giao cho công ty 24,3ha đất trồng cây công nghiệp. Ngày 22/4/1994, UBND huyện H ban hành quyết định số 93/QĐ giao cho ông M 24,3ha đất. Xét thấy: Nếu căn cứ đơn xin giao đất của Công ty TNHH M, thì thẩm quyền giao đất phải do UBND tỉnh Quảng Trị thực hiện và đối tượng được giao đất là Công ty TNHH M theo quy định tại khoản 1 Điều 24 Luật đất đai năm 1993, còn UBND huyện H chỉ giao đất cho cá nhân ông M theo quy định tại khoản 2 Điều 24 Luật đất đai năm 1993; quyết định giao đất căn cứ Quyết định 327 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) ngày 15/9/1992 để giao đất cho cá nhân ông M, trong khi đối tượng được giao đất theo quy định tại quyết định 327 lại là các tổ chức, dự án; Chủ tịch UBND huyện H ký thay mặt UBND huyện để giao đất là không đúng quy định. Do đó, xét về trình tự thủ tục, thẩm quyền, căn cứ, đối tượng để giao đất theo quyết định 93/QĐ ngày 22/4/1994 của UBND huyện H là không đúng nên VKSND huyện kháng nghị vấn đề này là có căn cứ. Tuy nhiên, xét quá trình sử dụng đất và việc giao đất cho ông Hồ Văn M, Hội đồng xét xử thấy rằng: Nguyên diện tích đất 24,3ha đã giao cho ông M có nguồn gốc từ năm 1988, sau khi ông M và một số cá nhân thành lập tổ hợp cà phê, ngày 13/4/1988 Hội đồng quy hoạch đất xã Tđã giao cho tổ hợp sản xuất cà phê của ông M khoảng 15ha đất. Để có tư cách pháp nhân trong việc trồng cây công nghiệp, ngày 17/6/1988 ông M và các cá nhân có đơn xin thành lập Tập đoàn cây công nghiệp và đã được UBND huyện H ra quyết định thành lập theo quyết định số 245 QĐ/UB, do ông M làm tập đoàn trưởng, tập đoàn hoạt động đến năm 1990 thì giải thể do tại thời điểm này cán bộ, công chức không được làm kinh tế tư nhân, riêng ông M và các cá nhân còn lại vẫn tổ chức hoạt động trồng cây công nghiệp trên đất được giao và khai hoang thêm. Năm 1992 ông M thành lập Doanh nghiệp tư nhân và đến năm 1993 thành lập Công ty TNHH M và công ty hoạt động từ đó cho đến nay. Đến năm 1994, ông M thay mặt Công ty TNHH M làm đơn xin giao đất và ngày 22/4/1994, UBND huyện H đã giao cho ông M 24,3ha đất mà ông M đã bỏ công khai hoang từ năm 1988. Trong quá trình hoạt động của Doanh nghiệp tư nhân và hoạt động của Công ty TNHH M, ông M đã đưa toàn bộ diện tích đất được giao vào hoạt động của doanh nghiệp.

Như vậy, việc ông M thay mặt công ty xin giao đất, nhưng UBND huyện lại giao cho cá nhân ông M là sai về thẩm quyền và đối tượng được giao đất, tuy nhiên việc giao đất cho cá nhân ông M là nhằm hợp lý hóa diện tích đất ông M đã trực tiếp khai hoang và tại thời điểm năm 1994, các thành viên Công ty TNHH M chủ yếu là thành viên trong gia đình, việc giao đất không gây thiệt hại cho bất kể một cá nhân hay xâm hại đến quyền lợi của Công ty TNHH M, không có ai khiếu nại, khởi kiện về việc giao đất cho cá nhân ông M. Bên cạnh đó, trước khi được giao đất, UBND tỉnh Quảng Trị đã ban hành quyết định số 191/UB ngày 20/12/1993 về việc “Phê duyệt dự án sử dụng đất trống, đồi núi trọc phát triển nông lâm nghiệp vùng các xã Liên - Lập huyện Hướng Hóa” và chủ dự án là ông Hồ Văn M, giám đốc Công ty TNHH M. Trước và sau khi được giao đất ông M đã đưa toàn bộ diện tích đất vào làm vốn hoạt động của công ty. Quá trình sử dụng đất công ty đã sử dụng đúng mục đích, hiệu quả cao đó là là phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, tạo công ăn, việc làm cho số lượng lớn công nhân. Công ty TNHH M được xem là mô hình trong việc trồng cây công nghiệp trên vùng đất này và là nơi cung cấp giống cây trồng cho nhiều nơi. Tuy nhiên, do sau đó công ty không tiếp cận được nguồn vốn 327 dẫn đến công ty không đủ khả năng hoạt động nên từ năm 1996 đến năm 2013 phải chuyển nhượng đất cho một số cá nhân, tổ chức để trả nợ do vay mượn trồng cây công nghiệp và bàn giao đất cho địa phương quản lý, người nhận chuyển nhượng hoặc giao quản lý đều sử dụng đúng mục đích, hiện chỉ còn lại phần diện tích đất do các bị đơn lấn chiếm, do đó nếu hủy quyết định số 93/QĐ ngày 22/4/1994 của UBND huyện H thì cũng không giải quyết thêm được vấn đề gì. Vì vậy, quyết định số 93/QĐ ngày 22 tháng 4 năm 1994 của Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Q về việc giao cho ông Hồ Văn M 24,3ha đất là sai về trình tự, thủ tục, đối tượng được giao đất nhưng không ảnh hưởng đến quyền lợi của phía bị đơn, do đó không cần thiết phải hủy quyết định số 93/QĐ ngày 22/4/1994 của Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Q về việc giao cho ông Hồ Văn M 24,3ha đất lâm nghiệp để bảo vệ và phát triển rừng, xây dựng kinh tế tại xã T, huyện H, tỉnh Q.

. Xét tranh chấp của các đương sự thấy rằng: Việc Ủy ban nhân dân huyện H ban hành quyết định số 93/QĐ ngày 22 tháng 4 năm 1994 về việc giao cho ông Hồ Văn M 24,3ha đất lâm nghiệp để bảo vệ và phát triển rừng, xây dựng kinh tế tại xã T, huyện H là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 2 Điều 24 Luật đất đai năm 1993. Theo Quyết định số 93/QĐ nói trên thì tổng diện tích đất giao cho ông M là 24,3ha, nhưng tại Bản đồ địa chính về hiện trạng sử dụng đất được giao theo Quyết định số 93/QĐ ngày 22/4/1994 của Ủy ban nhân dân huyện H do Phòng Tài nguyên môi trường, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H và Ủy ban nhân dân xã T, huyện H đo vẽ ngày 15/8/2018 thì có tổng diện tích đất là 246.583m2 (diện tích tăng thêm là 3.583m2). Tại Văn bản số 1023/UBND-TNMT ngày 25/10/2018 của UBND huyện H thì Ủy ban nhân dân huyện H cho rằng tại thời điểm giao đất, diện tích được giao tương đối lớn, thiết bị để đo đạc thửa đất còn lạc hậu, có sai số lớn, nay được đo đạc lại bằng thiết bị hiện đại có độ chính xác cao thì diện tích chênh lệch 3.583m2 tăng thêm có nguồn gốc đã được Ủy ban nhân dân huyện H giao cho ông Hồ Văn M tại Quyết định số 93/QĐ ngày 22/4/1994. Căn cứ Bản đồ địa chính ngày 15/8/2018 thì diện tích đất mà Bà Lê Thị Thái A và những người trong hàng thừa kế thứ nhất của ông Hồ Văn M đang tranh chấp với ông T và bà H là thửa đất số 14, tờ bản đồ số 04 thuộc Thôn C, xã T, huyện H, tỉnh Q, có diện tích 5.158m2 và thửa đất số 119, tờ bản đồ số 6 thuộc Thôn V, xã T, huyện H, tỉnh Q, có diện tích 5.477m2 đây là 02 thửa đất ông T và bà H đang sử dụng đều nằm trong diện tích đất theo Quyết định số 93/QĐ ngày 22/4/1994 của Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Q đã giao cho ông M. Ông Nguyễn T cho rằng vợ chồng Ông Nguyễn T và Bà Lê Thị H đã khai hoang và sử dụng hai thửa đất trên vào năm 1993, nhưng Bà Lê Thị H lại khai là vợ chồng bà bắt đầu khai hoang sử dụng các diện tích đất nói trên từ năm 1996 đến năm 1998, khi đến sử dụng đất đã thấy trên đất có gốc cây bạch đàn. Như vậy, lời khai của ông T và bà H không có sự thống nhất về thời gian sử dụng đất. Lời khai của bà H về thời gian sử dụng đất phù hợp với lời trình bày của phía nguyên đơn, vì: Trong quá trình sử dụng đất phía ông M đã trồng bạch đàn và đến ngày 04/4/1995 Công ty TNHH M đã có công văn số 36-CT/1995 về việc xin khai thác bạch đàn trồng năm 1991 và đã được Sở lâm nghiệp tỉnh Quảng Trị cấp giấy phép khai thác số 19/GPKT ngày 15/01/1996, do đó sau khi khai thác còn lại gốc cây bạch đàn trên đất là đúng. Bên cạnh đó, do các bị đơn sử dụng đất từ năm 1996 trở về sau là sau thời điểm ông Hồ Văn M được giao đất theo quyết định số 93/QĐ ngày 22/4/1994 của Ủy ban nhân dân huyện H; tại phiên tòa phúc thẩm bà H có nguyện vọng thỏa thuận với nguyên đơn về việc tiếp tục được sử dụng 02 diện tích đất đang tranh chấp, bà H trả cho nguyên đơn trả giá trị quyền sử dụng đất theo giá trị đã được định giá trước đây nhưng ông T không đồng ý, điều này chứng tỏ bà H đã thừa nhận 02 diện tích đất đang tranh chấp là của nguyên đơn. Mặt khác, ông T và bà H không có các tài liệu, chứng cứ chứng minh là đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao quyền sử dụng đất hợp pháp đối với 02 thửa đất nêu trên. Đến nay Quyết định số 93/QĐ ngày 22/4/1994 của Ủy ban nhân dân huyện H vẫn đang có hiệu lực, chưa bị cơ quan có thẩm quyền nào có văn bản thu hồi. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Hồ Văn M buộc Ông Nguyễn T và Bà Lê Thị H trả lại cho phía nguyên đơn thửa đất số 14, tờ bản đồ số 04 tại Thôn C, xã T, huyện H, tỉnh Q với diện tích 5.158m2 và thửa đất số 119, tờ bản đồ số 06 tại Thôn V, xã T, huyện H, tỉnh Q có diện tích 5.477m2 là có căn cứ, đúng pháp luật.

. Đối với ý kiến của VKSND huyện Hướng Hóa cho rằng trên diện tích đất đang tranh chấp có các loại cây công nghiệp và lâm nghiệp có tổng trị giá 73.886.400đ. Trường hợp có căn cứ xác định diện tích đất đang tranh chấp là của nguyên đơn và buộc bị đơn chặt phá, dõ bỏ sẽ lãng phí đối với tài sản đang có giá trị sử dụng; tại phiên tòa phúc thẩm các bị đơn đều cho rằng hiện trên 02 thửa đất đang tranh chấp không còn cây cối, do các bị đơn đã chặt phá, di dời trước đó. Xét thấy, do các bị đơn tự ý lấn chiếm đất của nguyên đơn, tự ý trồng cây trên đất không được sự cho phép của phía nguyên đơn nên việc buộc các bị đơn tự thu dọn cây cối có trên đất là đúng. Tuy nhiên, nay các bị đơn đều cho rằng không còn tài sản có giá trị trên đất tranh chấp nên không xem xét ý kiến này của VKSND huyện Hướng Hóa.

Như vậy, việc không đưa UBND huyện H vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là vi phạm thủ tục tố tụng; việc ban hành quyết định số 93/QĐ ngày 22/4/1994 của Ủy ban nhân dân huyện H có sai sót về trình tự, thủ tục nhưng đúng về thẩm quyền và các sai sót trên không ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của các bị đơn. Vì vậy, cần bác kháng cáo của ông T, bác kháng nghị của VKSND huyện Hướng Hóa. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

. Về án phí: Do kháng cáo Ông Nguyễn T và kháng nghị của VKSND huyện Hướng Hóa không được chấp nhận nên ông T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 308 BLTTDS, bác kháng cáo của Ông Nguyễn T và kháng nghị của VKSND huyện Hướng Hóa, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Áp dụng khoản 2 Điều 24 Luật đất đai năm 1993; khoản 7 Điều 3, khoản 1 Điều 17, khoản 7 Điều 166, khoản 1 Điều 203 Luật đất đai năm 2013; khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 147; khoản 3 Điều 296 BLTTDS năm 2015; khoản 2 Điều 27 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án ngày 27/02/2009 của UBTV Quốc hội; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 31/12/2016. Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là những người ở hàng thừa kế thứ nhất của ông Hồ Văn M: Buộc Ông Nguyễn T và Bà Lê Thị H phải thu dọn toàn bộ cây cối, tài sản trên đất (nếu có) để trả lại cho nguyên đơn là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Hồ Văn M 02 thửa đất nằm trong diện tích 24,3ha đất ông Hồ Văn M được giao theo Quyết định số 93/QĐ ngày 22/4/1994 của Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Quảng Trị, cụ thể:

- Thửa đất số 14, tờ bản đồ số 04 tại Thôn C, xã T, huyện H, tỉnh Q, có diện tích 5.158m2, có vị trí: Phía Bắc giáp đường đi dài 9,58m+25,06m+23,29m; Phía Nam giáp đất ông Nguyễn Cửu Hiển dài 55,94m; Phía Đông giáp đất ông Lương Tân dài 88,15m; Phía Tây giáp đất ông Nguyễn Phương và ông Lê Quang Lợi đang sử dụng dài 57,57m+26,94m.

- Thửa đất số 119, tờ bản đồ số 6 tại Thôn V, xã T, huyện H, tỉnh Q, có diện tích 5.477m2, có vị trí: Phía Bắc giáp đất ông Trương Công M đanh sử dụng dài 27,76m+28,21m+15,88m+21,88m; Phía Nam giáp đất ông Lê Quang Cang và đất ông Nguyễn

Tài

đang

sử

dụng

dài 23,56m+30,28m+8,87m+24,09m+3,70m+10,65m+10,87m; Phía Đông giáp đất Ủy ban nhân dân xã Tquản lý và đất ông Trương Công Hiếu dài 20,51m+25,05m; Phía Tây giáp đường thôn dài 56,58m.

2. Về án phí: Nguyên đơn là những người ở hàng thừa kế thứ nhất của ông Hồ Văn M không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho Bà Lê Thị Thái A tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp là 200.000đồng theo Biên lai số 0006725 ngày 30/5/2016 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị.

Ông Nguyễn T và Bà Lê Thị H phải chịu 200.000đ án phí dân sự sơ thẩm và Ông Nguyễn T phải chịu 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm ông T đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0007212 ngày 21/12/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hướng Hóa. Ông T và bà H còn phải nộp 200.000đ án phí dân sự sơ thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

- VKSND tỉnh Quảng Trị;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- TAND huyện Hướng Hóa;

- VKSND huyện Hướng Hóa

- Chi cục THADS H. Hướng Hóa;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ.

Trần Việt Trung

Cỡ chữ