- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "V - T (Tuyên bố mất tích)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của anh Lê Văn V .
- Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 370 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 371 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 13/2018/QĐDS - ST Ngày 18/ 6 /2018 V/v: “Tuyên bố một người mất tích” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
Với thành phần giải quyết việc dân sự:
Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Nga - Thẩm phán
Thư ký phiên họp: Bà Trần Thị Thu Phương - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên họp: Bà Hà Thị Khoa - Kiểm sát viên.
Trong ngày 18 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 17/2017/TLST- DS ngày 05 tháng 12 năm 2017 về “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo quyết định mở phiên họp số: 17/2018/QĐPH-ST ngày 29 tháng 5 năm 2018.
1. Người yêu cầu: Anh Lê Văn V , sinh năm 1968 Địa chỉ: Thôn Đ, xã ĐL, thành phố TH, tỉnh TH
2. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Lê Thị T , sinh năm 1971
Nơi cư trú cuối cùng: Địa chỉ: Thôn Đ, xã ĐL, thành phố TH, tỉnh TH
3. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết: Anh Lê Văn V yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố một người mất tích đối với vợ là chị Lê Thị T , sinh năm 1971; Nơi cư trú cuối cùng: Thôn Đ, xã ĐL, thành phố TH, tỉnh TH
NHẬN ĐỊNH:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa nhận định:
Anh Lê Văn V và chị Lê Thị T kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn năm 1996 tại UBND xã Hoằng Hà, huyện Hoằng Hóa tỉnh Thanh Hóa là hôn nhân hợp pháp. Tháng 5/2013 chị T đi khỏi nhà, không nói với gia đình là đi đâu làm gì, từ đó đến nay chị T không trở về. Anh V và gia đình đã áp dụng các biện pháp tìm kiếm nhưng không có kết quả. Do đó anh V làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Lê Thị T mất tích là đúng quy định tại Điều 387 - Bộ luật TTDS.
Quá trình giải quyết vụ việc Tòa án đã ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với chị Lê Thị T và công bố thông báo theo quy định tại Điều 384, 385 - BLTTDS (đã tiến hành đăng tin tìm kiếm chị Lê Thị T trên 3 số liên tiếp của Báo Nhân Dân; Nhắn 3 số liên tiếp trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam). Đến nay đã kết thúc thời hạn thông báo nhưng vẫn không có tin tức gì về chị T .
Kết quả xác minh ngày 15/5/2018 tại địa phương Thôn Đ, xã ĐL, thành phố TH, tỉnh TH (nơi cư trú cuối cùng của chị Thủy) và báo cáo của anh V đều xác định đến nay vẫn không có tin tức gì về chị T đang ở đâu, làm gì.
Do đó khẳng định chị Lê Thị T đã biệt tích hai năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm nhưng vẫn không có tin tức xác thực chị T còn sống hoặc đã chết.
Nay anh Lê Văn V yêu cầu tuyên bố một người mất tích đối với chị T là đúng quy định tại Điều 387 - Bộ luật TTDS và Điều 68 - Bộ luật dân sự nên được chấp nhận.
Về lệ phí: Anh Lê Văn V phải nộp 300.000đ lệ phí dân sự sơ thẩm.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 3 Điều 27; Điều 389; Điều 370; Điều 371; Điều 372 BLTTDS; Căn cứ Điều 68 Bộ luật Dân sự.
Căn cứ Điều 6; khoản 1 Điều 37; mục 1 phần I Mục B Nghị quyết 326/2016 của UBTVQH 14 vÒ quy định mức ¸n phÝ, LÖ phÝ Toµ ¸n.
Chấp nhận đơn yêu cầu của anh Lê Văn V .
Tuyên bố một người mất tích đối với: Chị Lê Thị T ; sinh năm 1971; Nơi cư trú cuối cùng: Địa chỉ: Thôn Đ, xã ĐL, thành phố TH, tỉnh TH
Về lệ phí: Anh Lê Văn V phải nộp 300.000đ lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí anh đã nộp theo biên lai thu số 0004639 ngày 28/11/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự TP. Thanh Hóa. Anh V đã nộp đủ lệ phí.
Người yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định hoặc quyết định được niêm yết theo quy định của pháp luật. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, VKS cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - Anh Lê Văn Viễn; - VKSND TP. Thanh Hóa; - TAND tỉnh Thanh Hóa; - THADS TP. Thanh Hóa; -UBND xã Đông Lĩnh, TP. TH - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Đã ký Nguyễn Thị Nga |