- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2018/HSST. Ngày: 20/4/2018. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIÊT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Tấn Hiếu.
Các vị hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Vệ;
2. Ông Bùi Văn Dũng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thanh Hiền, thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh tham gia phiên tòa: Ông Lâm Xuân Long, Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 10/2018/HSST, ngày 07 tháng 3 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2017/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 4 năm 2018 đối với bị cáo:
Họ và tên:
sinh năm 1998; h
ân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
1/ Nguyễn Hoàng D, sinh năm 1981 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ H, khóm K, phường L, thành phố Cao Lãnh, Đồng Tháp.
2/ Nguyễn Minh G, sinh năm 1991 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp B, xã C, huyện Cao Lãnh, Đồng Tháp.
3/ Phan Nhựt M, sinh năm 1990 (Có mặt).
Địa chỉ: Tổ E, khóm F, phường G, thành phố Cao Lãnh, Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngu
, nhưng thường xuyên
i
(
) 16/10/2017,
giao tiền và nhận
là anh
tại Tổ E, khóm F, phường G
T
đang
gồm
-862049036976854, Imei
; 01 xe môtô biển số 66P1-384.37
đứng tên chủ sở hữu.
Tại Kết luận giám định số 672/KL-KTHS ngày 19/10/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp, kết luận:
-
-
.
và tại phiên tòa, bị cáo T D
G,
D
qua
mua 6
.
để
.
và
ma túy từ T.
đ T
-3 cho D
anh
anh
150.0
và nhận ma túy từ T.
cho T
và nhận may túy từ T.
bị cáo T
anh D
anh
Tại cáo trạng số 12/CT-VKSTPCL, ngày 05/3/2018 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Cao Lãnh truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 2, Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như trên. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, khoản 2, Điều 194; điểm p, o khoản 1, Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009, xử phạt bị cáo T từ 07 đến 08 năm tù. Về vật chứng: Đề nghị tuyên như cáo trạng đã nêu.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, nên thường xuyên
Tổ E, khóm F, phường G Từ đó bị cáo khai nhận như 04 lần bán ma túy cụ thể như sau:
bị cáo
về bán lại cho anh D
.
7, bị cáo T
bán lại cho anh D 600.000 đồng.
bị cáo T
anh G
T
bán lại cho anh G
Tại phần tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát khẳng định Cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, khoản 2, Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không có ý kiến tranh luận. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời trình bày của người làm chứng và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Trong quá trình điều tra, truy tố Điều tra viên và Kiểm sát viên tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; tại phiên tòa Kiểm sát viên đã thực hiện đúng với quyền hạn và nhiệm vụ theo quy định.
Bị cáo là người đã thành niên, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định, bị cáo đã có hành vi nhiều lần mua bán trái phép chất ma túy, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội.
Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử kết luận hành vi phạm tội của cáo bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tại thời điểm bị cáo phạm tội Bộ luật hình sự 2015 chưa có hiệu lực pháp luật, nếu áp dụng Bộ luật hình sự năm 2015 có hai tình tiết định khung, sẽ bất lợi cho bị cáo, theo tinh thần nghị quyết 41/2017/QH14, ngày 20/6/2017 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, áp dụng nguyên tắc có lợi cho bị cáo. Do đó áp dụng điểm b, khoản 2, Điều 194 của Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 xét xử bị cáo.
Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo nhận thức rất rõ ma túy là nguyên nhân dẫn đến nhiều tệ nạn xã hội khác, ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của mỗi con người, mỗi gia đình và tòan xã hội. Thế mà, chỉ vì mục đích thỏa mãn nhu cầu cá nhân mà các bị cáo đã bất chấp pháp luật, bất chấp hậu quả do hành vi của mình gây ra cho xã hội. Do đó cần có mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt và răn đe, phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo báo, tỏ ra
đây
- Về vật chứng:
-
do
y O đứng tên chủ sở hữu, c quyền sở hữu. Hiện nay
O
uyền sở hữu đối với xe trên. Bị cáo T
tên
và
thu sung vào quỹ
-Imei 2: 8620490
bị cáo
quỹ
- Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo Nghị quyết Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo
phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng: Điểm b, Khoản 2, Điều 194; điểm p, o khoản 1 và khoản 2, Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.
Xử phạt bị cáo
07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù Thời hạn tù tính từ ngày 17/10/2017.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu sung quỹ nhà
-
, ngày 01/8/2009 do
đứng tên chủ sở hữu.
Tịch thu sung ngân sách nhà
-1: 862049036976854, Imei 2: 862049036976847, si
Tịch thu sung ngân sách nhà nước
, theo biên lai số 05769, ngày 22/02/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh, Đồng Tháp.
Tịch thu tiêu hủy gồm:
(Vật chứng nêu trên hiện do Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh đang quản lý).
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo T phải chịu 200.000 đồng.
- Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND TPCL; - Công an TPCL; - Đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Tấn Hiếu |