- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn S - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình S; Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình S
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2018/HS-ST Ngày 30 tháng 01 năm 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Huynh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Tiến Thành
Bà Lê Thị Diệu Tuyến
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Sỹ Hùng là Thư ký Tòa ánNhân dân Quận 1.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận1 tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Hải Yến - Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 01 năm 2018 tại trụ sở Tòa án Nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 175/2017/TLST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2018/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2018 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn S, giới tính: Nam, sinh ngày: 04/4/1983; tại:Thành phố Hồ Chí Minh, tên gọi khác: Không; Nơi đăng ký HKTT: Khu vực T, phường Thốt Nốt, Quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ, chỗ ở: X đường Bình Chiểu, phường Bình Chiểu, quận Thủ Đức, Tp. Hồ Chí Minh, Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Hòa Hảo; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Buôn bán; Cha: Nguyễn Phước T (Sinh năm: 1963); Mẹ: Nguyễn Thị P (Sinh năm: 1960); bị cáo là con thứ 2 trong gia đình có 3 người con; Vợ: Võ Thị N (Sinh năm: 1987); Con: Nguyễn Thị Mỹ D (sinh năm 2003); nhân thân: tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/7/2017. (Có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Ông Nguyễn Văn B (vắng mặt)
Địa chỉ:KhuvựcT, phườngThốtNốt,QuậnThốtNốt,TP.cầnThơ
2. Bà Nguyễn Thị Thúy N (vắng mặt)
Địa chỉ:Xkhu phố1,phườngTamHiệp,thành phố BiênHòa,tỉnhĐông Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do nghiện ma túy, nên vào khoảng 08 giờ 30 phút ngày 11/7/2017, Nguyễn Văn S điều khiển xe gắn máy biển số 60B1-16051 đến nhà X Trần Khắc Chân, phường Tân Định, Quận 1 để mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Khi đến nơi, S lấy số tiền 390.000 đồng nhét qua khe cửa, sau đó người trong nhà đưa ra 3 gói giấy bạc chứa chất bột màu trắng. S lấy 03 gói ma túy cất giấu trong túi quần phía trước bên phải định điều khiển xe đi về nhà để sử dụng thì bị các đồng chí Nguyên Văn L, Đào Văn L2 (Công an phường Tân Định và Công an Quận 1) đi tuần tra phát hiện có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy, nên yêu cầu kiểm tra thu giữ ma túy bắt giữ đưa về Công an phường Tân Định lập biên bản bẳt người phạm tội quả tang chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1 để xử lý.
Kết luận giám định số 1209/KLGĐ-H ngày 30 tháng 8 năm 2017 của Phòng kỹ thuật hình S Công an Tp. Hồ Chí Minh kết luận như sau: Chất bột màu trắng trong 03 gói giấy bạc được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Văn S và hình dấu Công an phường Tân Định, Quận 1 gửi đến giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,2864 gram, loại Heroin.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1, Nguyễn Văn S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên, lời khai của S phù hợp với lời khai nhân chứng, vật chứng thu được cùng các tài liệu chứng cứ do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1 thu thập.
Đối với căn nhà số X Đường Trần Khắc Chân, phường Tân Định, Quận 1, qua xác minh bà Tạ Thị H là chủ hộ, ngoài ra còn có bà Tạ Thị N, cháu Trần Thiện  (Sinh năm 2007), cháu Trần Thiện N (sinh năm 2010) ở cùng. Bà Tạ Thị H cho biết vào ngày 11/7/2017 gia đình đi vắng không có ai ở nhà nên chưa đủ căn cứ để xác định đối tuợng bán ma túy, Cơ quan điều tra Công an Quận 1 tiếp tục truy xét khi nào bắt được sẽ xử lý sau.
Vật chứng:
-01 gói niêm phong ma túy bên ngoài có chữ ký ghi tên GĐV Trần Đình H, CB Đội CSĐTTPVMT Nguyễn Văn Minh V, ghi số vụ 1209/Q1207
-01 điện thoại di động hiệu Nokia;
- 01 xe gắn máy biển số 60B1- 16051. Qua xác minh do chị Nguyễn Thị Thúỵ N đứng tên sở hũu, hiện chị N không còn tại địa phương nên không tiến hành ghi được lời khai. Nguyễn Văn S khai mượn xe của anh ruột tên Nguyên Văn B đi công việc đã dùng xe đi mua ma túy anh không biết. Anh Nguyễn Văn B cho biết mua chiếc xe ở tiệm cầm đồ không nhớ địa chỉ từ năm 2013 với giá 11.000.000 đồng. Ngày 11/7/2017, Nguyên Văn S tự ý lấy đi anh B không biết và yêu cầu xin nhận lại chiếc xe. Cơ quan Cảnh sát điều tra đang đăng báo truy tìm chủ sở hữu.
Tại bản cáo trạng số 172/CTr-VKS ngày 17 tháng 10 năm 2017, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố Nguyễn Văn S về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản1 Điều 194 của Bộ luật Hình S năm 1999.
* Tại phiên tòa sơ thẩm:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S từ 01 năm tù đến 01 năm 06 tháng tù; Phạt bị cáo 5.000.000 đồng để nộp ngân sách Nhà nước; tịch thu và tiêu hủy toàn bộ số ma túy thu giữ của bị cáo; trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Nokia nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án; thông báo tìm chủ sở hữu xe gắn máy biển số 60B1- 16051 trong thời gian 03 tháng, nếu không ai có giấy tờ chủ quyền hợp lệ đến nhận thì sẽ giao trả lại cho anh Nguyễn Văn B.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an Quận 1, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình S. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Về nội dung:Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu và khai nhận do nghiện ma túy, nên vào khoảng 08 giờ 30 phút ngày 11/7/2017, Nguyễn Văn S điều khiển xe gắn máy biển số 60B1-16051 đến nhà X Trần Khắc Chân, phường Tân Định, Quận 1 để mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Khi đến nơi, S lấy số tiền 390.000 đồng nhét qua khe cửa, sau đó người trong nhà đưa ra 3 gói giấy bạc chứa ma túy cất giấu trong túi quần phía trước B phải định điểu khiển xe đi về nhà để sử dụng thì bị bị các đồng chí Nguyên Văn Long, Đào Văn Luân (Công an phường Tân Định và Công an Quận 1) phát hiện, thu giữ ma túy và bắt giữ đưa về công an phường Tân Định lập biên bản bắt người phạm tội quả tang chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1.
Theo bản Kết luận giám định số 1209/KLGĐ-H ngày 30 tháng 8 năm 2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Tp. Hồ Chí Minh kết luận như sau: Chất bột màu trắng trong 03 gói giấy bạc được niêm phong B ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Văn S và hình dấu Công an phường Tân Định, Quận 1 gửi đến giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,2864 gram, loại Heroin.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, tang vật thu giữ và các tài liệu khác mà cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định hành vi của bị cáo Nguyễn Văn S đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình S năm 1999.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý, nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách về độc quyền quản lý và phòng chống tội phạm về ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Ma túy không những hủy hoại sức khỏe của chính người sử dụng nó, mà còn làm tha hóa thanh thiếu niên, gieo rắc cái chết trắng cho giới trẻ, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác và là một trong những tác nhân lan truyền căn bệnh của thế kỷ HIV-AIDS. Vì vậy, Nhà nước Việt Nam nghiêm cấm việc sản xuất, mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy, đồng thời quy định trừng phạt nghiêm khắc những ai cố tình vi phạm. Bản thân bị cáo nhận thức rõ tác hại của ma túy nhưng vẫn cố tình mua về cất giữ để sử dụng số ma túy tổng hợp có khối lượng 0,2864 gram, loại Heroin là tình tiết định tội được quy định tại khoản 1Điều 194 của Bộ luật Hình S năm 1999. Như vậy, cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, phù hợp với quy định của pháp luật, cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm minh nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và góp phần đấu tranh, phòng ngừa tội phạm nói chung.
Xét: khung hình phạt về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình S năm 2015 nhẹ hơn so với quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình S năm 1999. Căn cứ khoản 3 Điều 7 của Bộ luật Hình S năm 2015; điểm b Khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 của Quốc hội do đó áp dụng khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình S năm 2015 khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Xét: căn cứ khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình S năm 2015 cần phạt bị cáo một khoản tiền theo quy định pháp luật.
Xét quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện S ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình S được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình S năm 2015 để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
Về xử lý vật chứng:
- 01 gói niêm phong ma túy B ngoài có chữ ký ghi tên GĐV Trần Đình Hải, CB Đội CSĐTTPVMT Nguyễn Văn Minh Vương, ghi số vụ 1209/Q1207 là chất Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu, tiêu hủy.
- 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1105, số imei: 359764/06/076560/7 là tài sản riêng của bị cáo, không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Thông báo tìm chủ sở hữu xe gắn máy biển kiểm soát 60B1-160.51 số máy: 5C63-458600 số khung: RLCS5C630-BỴ8547 trong thời gian 03 tháng, nếu không ai có giấy tờ chủ quyền hợp lệ đến nhận thì trả lại cho anh Nguyễn Văn B.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình S sơ thẩm 200.000 đồng.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ vào khoản 1,khoản 5 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 và khoản 3 Điều 7 của Bộ luật Hình S năm 2015;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 01(Một) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 11 tháng 7 năm 2017.
Phạt bị cáo 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.
- Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình S năm 2015;
+ Tịch thu, tiêu hủy 01 gói niêm phong ma túy B ngoài có chữ ký ghi tên GĐV Trần Đình Hải, CB Đội CSĐTTPVMT Nguyễn Văn Minh Vương, ghi số vụ 1209/Q1207 theo Phiếu nhập kho vật chứng số 445/17/PNK ngày 13 tháng 10 năm 2017 của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
+ Trả lại cho bị cáo S 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1105, số imei: 359764/06/076560/7 theo Phiếu nhập kho vật chứng số 286/17/PNK ngày 19 tháng 7 năm 2017 của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minhnhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
+ Thông báo tìm chủ sở hữu xe gắn máy biển kiểm soát 60B1-160.51 số máy: 5C63-458600 số khung: RLCS5C630-BY8547 trong thời gian 03 tháng, nếu không ai có giấy tờ chủ quyền hợp lệ đến nhận thì trả lại cho anh Nguyễn Văn B.
- Căn cứu vào Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình S 2015; Luật phí và lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội;
Buộc bị cáo S phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình S sơ thẩm.
- Căn Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình S năm 2015;
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị Thúy N có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân S thì người được thi hành án dân S, người phải thi hành án dân S có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân S; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân S.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND TP. Hồ Chí Minh; - VKSND Quận 1; - Công an Quận 1; - Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền; - Bị cáo; - Người liên quan; - Lưu: VP, HS./. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quang Huynh |