- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn T bị xét xử về tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn T, phạm tội "Trộm cắp tài sản".
- Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 199 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 222 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN TỈNH ĐỒNG NAI ______________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2018/HSST Ngày: 09/02/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hùng
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Bùi Văn Vinh.
2/ Bà Nguyễn Thị Liệu.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Oai, Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện VKSND huyện Định Quán tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Đức – Kiểm sát viên.
Ngày 09/02/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 04/2018/HSST ngày 08/01/2018; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:10/HSST- QĐ ngày 24/01/2018 đối với bị cáo:
Lê Văn T, sinh năm 1990; Nơi sinh: ĐN; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: khóm 7, khu 9, thị trấn TP, huyện TP, tỉnh ĐN.; Chỗ ở: như trên; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 3/12; con ông Lê Văn Đ, sinh năm 1957 và con bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1961 (đã chết), gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ ba; Tiền án: không; tiền sự: 01
Bị cáo bị UBND huyện TP, tỉnh ĐN ra quyết định xử phạt hành chính “Đưa vào cơ sở chữa bệnh”, theo Quyết định số 596/QĐ ngày 03/4/2012 tại Cơ sở điều trị nghiện ma túy tỉnh ĐN trong thời hạn 24 tháng. Bị cáo chấp hành từ ngày 01/10/2012, đến ngày 31/01/2013 thì bị cáo đã bỏ trốn.
Nhân thân: Bị cáo bị Tòa án nhân dân tỉnh ĐN xử phạt 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo Bản án số 06/2010/HSPT ngày 18/01/2010. Bị cáo đã chấp hành xong bản án ngày 18/01/2012
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/11/2017 cho đến nay.
* Người bị hại: Chị Đinh Thị T, sinh năm 1971
Địa chỉ: KDC 3, ấp 1, xã PH, huyện ĐQ, tỉnh ĐN.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa, người bị hại vắng mặt tại phiên tòa.
- 1 -
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, quá trình xét hỏi tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chiều ngày 06/11/2017, Lê Văn T đi đến chơi ở nhà bạn là anh Đào Văn B – sinh năm 1975 ở ấp 1, xã PH, huyện ĐQ, tỉnh ĐN. Sau khi đã uống rượu cùng với anh B nên T đã ngủ lại tại nhà anh B. Đến khoảng 11 giờ 30 phút ngày 07/11/2017, T tỉnh dậy và đi về. Khi đi ngang qua nhà bà Đinh Thị T - sinh năm 1971 ở ấp 1, xã PH, huyện ĐQ thì T phát hiện thấy bên hông nhà của bà T có dựng 01 xe mô tô nhưng không có người trông coi, nên T đã nảy sinh ý định vào nhà bà T để trộm cắp chiếc xe mô tô trên. Sau đó, T đi vào bên nhà bà T đến nơi dựng chiếc xe mô tô, thấy trên xe mô tô có cắm sẵn chìa khóa nên T đã dắt chiếc xe mô tô biển số 60K3-8133 ra đường rồi nổ máy và điều khiển xe mô tô chạy về hướng huyện TP, tỉnh ĐN. Đến ngày 22/11/2017, trong lúc T đang điều khiển xe môtô biển số 60K3-8133 tại khu vực xã PT, huyện TP, tỉnh ĐN thì bị Công an xã PT phát hiện mời về trụ sở để làm việc.
Vật chứng vụ án:
- 01 xe mô tô 02 bánh, nhãn hiệu DONA (kiểu Dream), dung tích 97cm3, màu nâu, biển số 60K3-8133, số khung NJ100-200093355, số máy 50FMG-310093355 (xe đã thu hồi và trả lại cho chủ sở hữu bà T đã nhận lại xe và không có yêu cầu gì khác).
Căn cứ bản Kết luận định giá tài sản ngày 23/11/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện ĐQ kết luận: giá trị tài sản là 2.500.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số: 07/VKS-HS ngày 08/01/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐQ đã truy tố bị cáo Lê Văn T về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1, Điều 138 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng nêu trên và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng bị cáo: thành khẩn khai báo, tài sản đã thu hồi và trả lại cho chủ sở hữu, bị cáo học vấn thấp nên hiểu biết pháp luật hạn chế đây là những tình tiết giãm nhẹ theo điểm p khoản 1, 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 08 tháng đến 10 tháng tù.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội mà Viện kiểm sát truy tố là đúng không oan sai, xin Hội đồng xét xử giãm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
- 2 -
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện ĐQ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐQ; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Tại phiên tòa, người bị hại vắng mặt nhưng đã có lời khai tại cơ quan điều tra nên việc vắng mặt họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
Về hành vi cấu thành tội phạm:
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời nhận tội phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận: khoảng 11 giờ 30 phút ngày 07/11/2017, bị cáo T đã lén lút vào lấy 01 xe mô tô biển số 60K3-8133 trị giá 2.500.000 đồng của bà Đinh Thị T, tại ấp 1, xã PH, huyện ĐQ, tỉnh ĐN thì bị công an bắt giữ. Theo quy định tại Điều 138 - Bộ luật hình sự: “1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”. Hành vi của bị cáo T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự nên Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐQ truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là có căn cứ.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn gây mất trật tự, trị an tại địa phương nên cần phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung là cần thiết.
Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử đã xem xét bị cáo có nhân thân xấu, có 01 tiền sự. Bị cáo thành khẩn khai báo, tài sản đã được thu hồi và trả lại cho chủ sở hữu là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm p khỏan 1 Điều 46- của Bộ luật hình sự;
Về trách nhiệm dân sự: người bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí HSST.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
- 3 -
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn T, phạm tội "Trộm cắp tài sản".
- Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1, 2 Điều 46, Điều 33 - Bộ luật hình sự; Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Xử phạt: bị cáo Lê Văn T 01(một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/11/2017.
- Áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016. Buộc các bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người bị hại được tính từ ngày nhận được bản án hoặc Tòa án niêm yết theo quy định.
| Nơi nhận: - TA tỉnh; - Sở tư pháp tỉnh Đ.Nai; - VKSND- HĐQ; - CA huyện ĐQ; - THA huyện ĐQ; - Bị cáo; - Lưu HS. - 4 - Hội thẩm nhân dân - 5 - - 6 - - 7 - HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Hội thẩm nhân dân - 8 - TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN TỈNH ĐỒNG NAI BIÊN BẢN NGHỊ ÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hùng Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Sẩm Dắt Phắn Căn cứ vào Điều 199 và Điều 222 của Bộ luật tố tụng hình sự; xét xử sơ thẩm đã tiến hành nghị án đối với vụ án: Tô Kim Loan (tên gọi khác Dung) cùng đồng phạm, bị truy tố và xét xử về tội: “đánh bạc”. xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo; Hội đồng xét xử thảo luận về những vấn đề phải giải quyết trong vụ án như sau: Đoàn Thị Kim Xuân, Cao Thị Cưng, Trần Ngọc Luận, Trần Thành Được và Hồ Châu Tum phạm tội “Đánh bạc”. Kết quả biểu quyết: 3/3. 2. Về điều luật áp dụng: Điều 30, Điều 53 của Bộ luật hình sự. tố tụng hình sự. ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội. Kết quả biểu quyết: 3/3. 3. Về mức hình phạt: đồng). Xử phạt: Bị cáo Trần Thị Két với số tiền 6.000.000đ (sáu triệu đồng). Xử phạt: Bị cáo Cao Thị Cưng với số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng). - 9 - Xử phạt: Bị cáo Hồ Châu Tum với số tiền 5.000.000đ(năm triệu đồng). Kết quả biểu quyết: 3/3. 4. Về các vấn đề khác: 002981 ngày 27/6/2017 của Chi cụ Thi hành án dân sự huyện Định Quán). bộ vật chứng vụ án hiện Chi cục thi hành án huyện Định Quán đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/6/2017). nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Kết quả biểu quyết: 3/3 HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Hội thẩm nhân dân - 10 - - 11 - - 12 - - 13 - | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Hùng HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Chủ tọa phiên tòa Chủ tọa phiên tòa CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Long Khánh, ngày 01 tháng 8 năm 2017 2/ Bà Nguyễn Thị Thuần Vào hồi 10 giờ 30 ngày 01 tháng 8 năm 2017, tại phòng nghị án, Hội đồng Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở 1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Tô Kim Loan (Dung), Trần Thị Két, - Áp dụng khoản 1, Điều 248 của Bộ luật hình sự; điểm p, h khoản 1 Điều 46; - Áp dụng khoản 1, Điều 41 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 76 của Bộ luật - Áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 Xử phạt: Bị cáo Tô Kim Loan(Dung) với số tiền 12.000.000đ (mười hai triệu Xử phạt: Bị cáo Đoàn Thị Kim Xuân với số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng). Xử phạt: Bị cáo Trần Ngọc Luận với số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng). Xử phạt: Bị cáo Trần Thành Được với số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng). Tich thu sung quỹ Nhà nước số tiền 17.210.000 đồng (Biên lai thu tiền số Tịch thu tiêu hủy 01 mền vải màu xanh, 06 bìa caton và 02 bộ bài tây. (Toàn Buộc các bị cáo Loan, Két, Xuân, Cưng, Luận, Được, Tum mỗi bị cáo phải Chủ tọa phiên tòa |