- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Cao Thị T mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Cao Thị T đã phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2018/HS-ST Ngày: 27 - 9 - 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Sơn
Thẩm phán: Ông Nguyễn Xuân Việt
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Xuân Mâu
Ông Lưu Hồng Anh
Bà Nguyễn Hoàng Thủy
Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Anh Việt, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Bách, Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 27 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 15/2018/TLST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 393/2018/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo:
Cao Thị T, tên gọi khác: Đỏ; sinh ngày 06 tháng 9 năm 1989 tại tỉnh Quảng Bình; Nơi cư trú: Bản H, xã H, huyện M, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: Lớp 7/12; dân tộc: Sách; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Xuân T (đã chết) và bà Cao Thị N; có chồng Đinh Văn T không đăng ký kết hôn, hiện không chung sống với nhau và có 02 đứa con lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Sinh ra và lớn lên được gia đình nuôi ăn học, học xong lớp 7/12 thì nghỉ học ở nhà. Từ năm 2014 đến ngày 05/02/2018 đã nhiều lần xuất cảnh sang nước Lào làm ăn buôn bán; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/02/2018 đến nay tại trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Bình, bị cáo có mặt tại phiên tòa theo lệnh trích xuất của Tòa án.
- Người bào chữa cho bị cáo:
+ Bà Dương Thị Thúy H, Luật sư Văn phòng luật sư M thuộc Đoàn luật sư tỉnh Quảng Bình, có mặt tại phiên tòa
+ Ông Hoàng Minh T, Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Quảng Bình, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có sự thỏa thuận từ trước với đối tượng có tên là Đ ở thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình về việc Đ sẽ mua 02 gói ma túy hồng phiến có số lượng 400 viên với giá 20.000.000 đồng, nên Cao Thị T lúc này đang ở tại nước Lào đã liên hệ và mua của một người đàn ông Lào 02 gói ma túy hồng phiến có số lượng khoảng 400 viên với giá 3.600.000 kíp Lào (tương đương 10.000.000 đồng tiền Việt Nam), T tự trả cho người Lào số tiền này. Sau đó T nhờ Trần Văn Ph, sinh năm 1985 quê ở tỉnh Thanh Hóa (là bạn trai của T) nhận và vận chuyển về Việt Nam, còn Ph vận chuyển về Việt Nam bằng cách nào thì T không biết.
Đến ngày 05/02/2018, Ph sử dụng xe mô tô của T có nhãn hiện YAMAHA loại MIO Classico chở theo T nhập cảnh về Việt Nam qua cửa khẩu quốc tế Cha Lo. Khi đi đến địa phận xã H, huyện M, tỉnh Quảng Bình thì Phú có gặp và lấy 02 gói ma túy mà T đã nhờ Ph vận chuyển về Việt Nam từ một người đàn ông có tên là Đinh Hồng Tr (tức Tr “Cu”) ở thôn Th, xã H, huyện M, tỉnh Quảng Bình. Sau đó Ph chở T đi về nhà của bà Cao Thị N (là mẹ của T) ở xã H, huyện M, tỉnh Quảng Bình. Tại đây Ph đã trộn 02 gói ma túy của T lại thành 01 gói đựng trong túi nilon màu xanh và đưa cho T, T không kiểm đếm số lượng ma túy này. Khoảng 20 giờ ngày 05/02/2018, T sử dụng xe mô tô có nhãn hiện YAMAHA loại MIO Classico mang theo gói ma túy chạy đến gặp Đ tại nhà nghỉ Chí Nga ở xã Tr, huyện M, tỉnh Quảng Bình để bán cho Đ gói ma túy này với giá 20.000.000 đồng như đã thỏa thuận. Một lúc sau T và Đ tiếp tục sử dụng xe mô tô của T chạy đến địa điểm tại KM 903+250 trên đường Hồ Chí Minh thuộc địa phận thuộc thôn Q, xã Th, huyện M, tỉnh Quảng Bình để Đ đi lấy tiền trả cho T, đến 23 giờ 30 phút cùng ngày trong lúc T đang đứng đợi Đ thì bị lực lượng biên phòng phát hiện bắt quả tang và thu giữ số ma túy này. (BL: 10-11, 74-91, 92-110, 133-136).
Tiến hành khám xét khẩn cấp xe mô tô của T có nhãn hiệu YAMAHA loại MIO Classico màu trắng, không có biển kiểm soát, Đồn biên phòng Cà Xèng - Bộ đội biên phòng tỉnh Quảng Bình còn thu giữ bên trong ốp xe trước phía trên đầu bò 01 túi nilon màu đen bên trong chứa 350 viên ma túy hồng phiến có tổng khối lượng 34,23 gam. (BL: 13-14).
Tại bản kết luận giám định số 216 ngày 07/02/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình kết luận: 335 viên nén hình tròn thu giữ lúc bắt quả tang Cao Thị T là Methamphetamine, có tổng khối lượng: 32,189 gam; 350 viên nén hình tròn thu giữ lúc khám xét xe mô tô của Cao Thị T là Methamphetamine, có tổng khối lượng: 34,23 gam. Methamphetamine nằm trong Danh mục các chất ma túy, số thứ tự 67, Danh mục II, Nghị định số 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính Phủ (nay Methamphetamine nằm trong Danh mục các chất ma túy, số thứ tự 323, Danh mục II, Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ).
Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ vật chứng tại Cao Thị T và chuyển đến kho vật chứng của Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Bình, cụ thể gồm:
- 335 (ba trăm ba mươi lăm) viên ma túy hồng phiến, có tổng khối lượng 32,189 gam Methamphetamine, sau giám định còn lại 31,127 gam; 350 (ba trăm năm mươi) viên ma túy hồng phiến, có tổng khối lượng 34,23 gam Methamphetamine, sau giám định còn lại 33,264 gam; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA loại MIO Classico màu trắng, không có biển kiểm soát, số máy 23C1-069901, số khung 069900 (đã qua sử dụng không kiểm tra chi tiết máy móc bên trong); 01 (một) điện thoại di động hiệu ANOKA màu đen trắng, số IMEL 1352.835.090.171.953; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 003668 mang tên Cao Thị T do Công an huyện Minh Hóa cấp ngày 21/02/2014 có số máy 069901, số khung 069900; 01 (một) cuốn Hộ chiếu mang tên Cao Thị T;16.900.000 đồng (mười sáu triệu chín trăm đồng) tiền Việt Nam;
Bản Cáo trạng số 162/CT-VKS-P1 ngày 30 tháng 7 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình đã truy tố Cao Thị T về tội " Mua bán trái phép chất ma túy" theo điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo Cao Thị T phạm tội " Mua bán trái phép chất ma túy" và áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, đề nghị xử phạt bị cáo Cao Thị T từ 15 - 16 năm tù.
Vật chứng vụ án: Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 xe máy kèm theo giấy đăng ký xe máy mang tên Cao Thị T và 01 điện thoại di động; Tịch thu tiêu hủy 335 (ba trăm ba mươi lăm) viên ma túy hồng phiến, có tổng khối lượng 32,189 gam Methamphetamine, sau giám định còn lại 31,127 gam và 350 (ba trăm năm mươi) viên ma túy hồng phiến, có tổng khối lượng 34,23 gam Methamphetamine, sau giám định còn lại 33,264 gam; Trả lại cho Cao Thị T số tiền 16.900.000 đồng và 01 cuốn hộ chiếu mang tên Cao Thị T.
Tại phiên tòa Luật sư và Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo nhất trí với Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố Cao Thị T về tội mua bán trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo thật thà khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo là người dân tộc thiểu số để xử phạt bị cáo ở mức thấp nhất của khung hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định của Đồn Biên phòng Cà Xèng - Bộ Chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh Quảng Bình, cơ quan Điều tra Công an tỉnh Quảng Bình, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đầy đủ về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Hình sự. Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo: tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay bị cáo Cao Thị T khai nhận hành vi phạm tội: Do có thỏa thuận từ trước, nên khoảng 20 giờ ngày 05/02/2018, T sử dụng xe mô tô có nhãn hiện YAMAHA loại MIO Classico mang theo gói ma túy mà bị cáo T mua từ Lào về, rồi chạy xe đến gặp Đ tại nhà nghỉ Chí Nga ở xã Tr, huyện M, tỉnh Quảng Bình để bán cho Đ gói ma túy này với giá 20.000.000 đồng như đã thỏa thuận. Một lúc sau T và Đ tiếp tục sử dụng xe mô tô của T chạy đến địa điểm tại KM 903+250 trên đường Hồ Chí Minh thuộc địa phận thuộc thôn Q, xã Th, huyện M, tỉnh Quảng Bình để Đ đi lấy tiền trả cho T. Đến 23 giờ 30 phút, ngày 05 tháng 02 năm 2018 trên đường Hồ Chí Minh thuộc địa phận thuộc thôn Q, xã Th, huyện M, tỉnh Quảng Bình, Phòng phòng chống ma túy và tội phạm - Bộ chỉ huy bộ đội biên phòng tỉnh Quảng Bình phối hợp với Đồn biên phòng Cà Xèng - Bộ đội biên phòng tỉnh Quảng Bình phát hiện, bắt quả tang Cao Thị T đang có hành vi tàng trữ trái phép để chuẩn bị mua bán 335 viên ma túy hồng phiến, được Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình giám định và kết luận là chất ma túy loại Methamphetamine nằm trong Danh mục các chất ma túy, số thứ tự 67, Danh mục II, Nghị định số 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính Phủ (nay Methamphetamine nằm trong Danh mục các chất ma túy, số thứ tự 323, Danh mục II, Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ), có tổng khối lượng 32,189 gam ở trong cốp xe mô tô của T nhằm mục đích bán cho đối tượng tên là Đ để kiếm lời. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và tang vật ma túy bị thu giữ. Do đó, Hội đồng xét xử sơ thẩm đủ căn cứ kết luận, bị cáo Cao Thị T đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015.
Xét tính chất vụ án: Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, bị cáo biết ma túy là chất gây nghiện, gây ảo giác, gây nguy hại đến sức khỏe cho con người, làm băng hoại đạo đức, ảnh hưởng đến gia đình và xã hội, là nguyên nhân của mọi loại tội phạm khác, pháp luật nghiêm cấm các hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán và sử dụng trái phép chất ma túy, nhưng vì hám lợi bị cáo trực tiếp mua bán trái phép chất ma túy với khối lượng lớn (32,189 gam), hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện sự xem thường pháp luật, gây mất trật tự trị an trên địa bàn và bức xúc trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo nhằm răn đe và giáo dục, phòng ngừa chung trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm ma túy và các loại tội phạm khác.
Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; có các tình tiết giảm nhẹ là sau khi phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và là người dân tộc Sách (thuộc dân tộc thiểu số) đang sinh sống tại vùng miền núi có hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về hình phạt bổ sung: Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát không đề nghị áp dụng đối với bị cáo. Tuy nhiên Hội đồng xét xử nhận thấy hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn nên không thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, xử lý như sau:
- 335 (ba trăm ba mươi lăm) viên ma túy hồng phiến, có tổng khối lượng 32,189 gam, sau giám định còn lại 31,127 gam đựng trong phong bì thư ghi "216/QĐ-PC54", ký hiệu A đã được niêm phong là loại ma túy Methamphetamin cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy;
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA loại MIO Classico, không có biển kiểm soát, màu trắng; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số đăng ký 003668, số khung 069900 và số máy 069901 mang tên Cao Thị T và 01 (một) điện thoại di động hiệu ANOKA đây là phương tiện bị cáo Tuyết dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước;
- 01 (một) cuốn Hộ chiếu mang tên Cao Thị T là giấy tờ tùy thân của bị cáo nên trả lại cho bị cáo;
- Số tiền 16.900.000 đồng tiền Việt Nam, đây là số tiền của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên trả lại cho bị cáo;
- Riêng số vật chứng là 350 viên ma túy hồng phiến Methamphetamine, có tổng khối lượng 34,23 gam thu giữ lúc khám xét xe mô tô của Cao Thị T, sau giám định còn lại 33,264 gam đựng trong phong bì thư ghi "216/QĐ-PC54", ký hiệu A1 đã được niêm phong. Quá trình điều tra chưa làm rõ được đối tượng Trần Văn Ph. Vì vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Bình sẽ tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ hành vi của Trần Văn Ph. Tuy nhiên với Kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình đó là loại ma túy Methaphetamine là ma túy cấm lưu hành. Do đó cần giải quyết trong vụ án này cùng với số vật chứng thu giữ tại bị cáo Cao Thị T, cần tịch thu tiêu hủy.
Tất cả số vật chứng này đang được tạm giữ tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Bình.
Trong vụ án này còn có:
- Đối tượng Trần Văn Ph, sinh năm 1985 quê ở xã Th, huyện Tr, tỉnh Thanh Hóa (là bạn trai của T). Theo lời khai của T thì chính Ph là người đã vận chuyển ma túy từ Lào về Việt Nam cho T và số vật chứng là 350 viên ma túy hồng phiến Methamphetamine, có tổng khối lượng 34,23 gam thu giữ lúc khám xét xe mô tô của Cao Thị T. Quá trình điều tra T khai nhận không biết gì về số ma túy này, T có nghi ngờ số ma túy này là của Trần Văn Ph. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Bình đã tiến hành xác minh tại địa phương nơi Ph sinh sống nhưng Ph không có mặt tại địa phương, gia đình và chính quyền địa phương không biết rõ Ph đi đâu, làm gì nên chưa lấy được lời khai của Ph và chưa có đủ căn cứ xử lý. Vì vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Bình sẽ tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ xử lý sau.
- Đối tượng có tên là Đ, theo lời khai của T là đã thỏa thuận mua ma túy của T với giá 20.000.000 đồng. T chỉ biết đối tượng này có tên là Đ, ở thành phố Đ, nhưng không biết rõ họ tên, ngày tháng năm sinh cũng như nơi cư trú cụ thể của Đ. T chỉ khai nhận liên lạc để bán ma túy với Đ qua số điện thoại mà Đ sử dụng có số 0963475085. Tiến hành thu giữ thư tín, điện tín, Tập đoàn Viễn thông quân đội Viettel cung cấp thì số thiện thoại này đứng tên bà Phạm Thị Q ở xã V, huyện B, tỉnh Quảng Bình. Tiến hành lấy lời khai bà Q thì bà Q khai nhận không sử dụng và không biết gì về số điện thoại này. Vì vậy không có căn cứ để tiếp tục điều tra, xác minh xử lý với Đ.
- Đối tượng người Lào, theo lời khai của T là đã bán ma túy cho T nhưng T không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ cư trú của người này nên không có căn cứ để tiếp tục điều tra xử lý.
- Đối tượng có tên là Đinh Hồng Tr (tức Tr “Cu”) ở thôn Th, xã H, huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình, theo lời khai của T là Tr đã đưa ma túy cho Ph để Ph đưa cho T bán cho Đ. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Bình đã tiến hành xác minh tại địa phương nơi Tr sinh sống nhưng tại thời điểm xác minh Tr không có mặt tại địa phương, gia đình và chính quyền địa phương không biết Tr đi đâu, làm gì nên chưa có căn cứ để xử lý. Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh điều tra làm rõ.
Về án phí hình sự sơ thẩm: áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,
Bị cáo Cao Thị T phải chịu nộp 200.000 đồng. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Cao Thị T đã phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy"
1. Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015;
Xử phạt: Cao Thị T 15 (mười lăm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, giam 06/02/2018
Quyết định tạm giam Cao Thị T với thời hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo cho việc thi hành án
2. Về hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo
3. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
- Tịch thu tiêu hủy 31,127 gam Methamphetamine đựng trong phong bì thư ghi "216/QĐ-PC54", ký hiệu A đã được niêm phong và 33,264 gam Methamphetamine đựng trong phong bì thư ghi "216/QĐ-PC54", ký hiệu A1 đã được niêm phong.
- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA loại MIO Classico, màu trắng không có biển kiểm soát, số máy 069901, số khung 069900 (xe đã qua sử dụng); 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 003668 mang tên Cao Thị T và 01 (một) điện thoại di động hiệu ANOKA màu đen trắng, số IMEL 1352.835.090.171.953 (máy đã qua sử dụng);
- Trả lại cho Cao Thị T 16.900.000 đồng (mười sáu triệu chín trăm ngàn đồng) tiền Việt Nam và 01 (một) cuốn Hộ chiếu mang tên Cao Thị T;
Tất cả số vật chứng trên đang được tạm giữ tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Bình tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/8/2018 và Ủy nhiệm chi số tiền 16.900.000 đồng giữa Phòng Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp - Công an tỉnh Quảng Bình với Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Bình lập ngày 02/8/2018.
4. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án
Bị cáo Cao Thị T phải chịu nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ( 27 tháng 9 năm 2018).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Quảng Bình; - VKSCC tại Đà Nẵng; - TANDCC tại Đà nẵng; - Phòng HSNVCS - CA Q. Bình; - Cơ quan CSĐT CA Q.Bình; - Cục THADS Quảng Bình; - Vụ GĐKT I TANDTC; - Phòng KTNV - THAHS TAND tỉnh; - Phòng PC 81 - CA Quảng Bình; - Sở T ư pháp Quảng Bình; - Bị cáo; - Người bào chữa (02 người); - Lưu HSVA, Tòa HS, án văn. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thái Sơn |