vanban.org

Bản án 13/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình Tuyên án 06/02/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt: Nguyễn Đức V 01 năm 06 tháng tù.Thời hạn tù tính từ ngày 05/12/2017. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015: Tịch thu tiêu hủy 0,1298 gam ma túy, loại Hêrôin… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức V phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VŨ THƢ
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2018/HS-ST
Ngày 06-02-2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨ THƢ - TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Thu Hiền

2. Bà Nguyễn Thị Nhiễu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Liên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Duy - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 02 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 06/2018/TLST-HS ngày 12 tháng 01 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2018/QĐXXST-HS ngày 25/01/2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Đức V, sinh ngày 11/8/1994, tại Thái Bình.

Nơi cư trú: Thôn T, xã N, huyện V, tỉnh Thái Bình.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Giới tính: Nam. Con ông: Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị T; Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ từ ngày 05/12/2017 đến ngày 08/12/2017 chuyển tạm giam. Hiện đang tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình. Có mặt.

- Người làm chứng:

1. Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1961; Trú tại: Thôn T, xã N, huyện V, tỉnh Thái Bình. Có mặt.

2. Anh Phạm Văn T, sinh năm 1985; Trú tại: Thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.

3. Ông Trần Khắc T, sinh năm 1967; Trú tại: Thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 15 phút ngày 05/12/2017, tại khu vực cống Tân Đệ thuộc thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình, Nguyễn Đức V đã bị lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình kiểm tra phát hiện thu giữ trong chiếc làn nhựa treo ở móc bên trái xe mô tô biển kiểm soát 17F5 - 9844 do V điều khiển 01 gói Hêrôin có trọng lượng 0,3088 gam được gói 2 lớp, lớp bên trong là giấy tráng kim loại màu trắng, lớp bên ngoài là giấy nilon trong suốt. Ngoài ra còn thu giữ của V 01 chiếc làn và 01 xe mô tô biển kiểm soát 17F5 - 9844.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận: Do bị nghiện ma túy từ năm 2014 nên khoảng 09 giờ ngày 05/12/2017, bị cáo điều khiển xe môtô biển số đăng ký 17F5 – 9844, mượn của bố đẻ bị cáo, đi lên thành phố Thái Bình tìm mua Hêrôin để sử dụng. Khi đến khu vực cầu Cống Trắng, phường Q, thành phố Thái Bình, bị cáo mua của một người phụ nữ khoảng 40 tuổi không biết tên, địa chỉ 01 gói Hêrôin giá 100.000 đồng. Bị cáo bỏ gói Hêrôin vào trong chiếc làn bằng nhựa màu xanh đỏ treo ở móc bên trái xe mô tô rồi đi về nhà. Đến khoảng 11 giờ 15 phút cùng ngày khi bị cáo điều khiển xe mô tô về đến thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình, bị cáo dừng xe để tìm nơi sử dụng thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình phát hiện bắt quả tang.

Lời khai của những người làm chứng; Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an huyện Vũ Thư lập hồi 11 giờ 30 phút ngày 05/12/2017; Biên bản niêm phong vật chứng do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vũ Thư lập hồi 13 giờ 30 phút ngày 05/12/2017 đều thể hiện như lời khai của bị cáo.

Bản kết luận giám định số 473/LKGĐ-PC54 ngày 05/12/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: “Mẫu gửi giám định thu của Nguyễn Đức V là ma túy, loại Hêrôin, có trọng lượng 0,3088 gam. Heroine STT: 20, danh mục I, Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ.

Bản Cáo trạng số 09/KSĐT ngày 12 tháng 01 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Nguyễn Đức V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Vật chứng của vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015: Tịch thu tiêu hủy số Hêrôin còn lại trong phong bì niêm phong hoàn trả mẫu vật gửi giám định số 473/KLGĐ-PC54 ngày 05/12/2017; 01 chiếc làn bằng nhựa đã qua sử dụng.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật về thẩm quyền, trình tự, thủ tục nên các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án này là hợp pháp. Bị cáo không khiếu nại hay có ý kiến gì.

Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của những người làm chứng và được chứng minh bằng: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong vật chứng; Bản kết luận giám định và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 15 phút ngày 05/12/2017 tại khu vực cống Tân Đệ thuộc thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình, lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình phát hiện bắt quả tang Nguyễn Đức V, sinh ngày 11/8/1994 có hành vi tàng trữ trái phép 0,3088 gam ma túy, loại Hêrôin tại chiếc làn bằng nhựa treo ở móc bên trái xe mô tô biển số đăng ký 17F5 - 9844 do V điều khiển, mục đích để sử dụng cho bản thân.

Theo quy định của Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội; khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước ta, gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội. Bị cáo đã biết rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, thể hiện sự coi thường pháp luật, do vậy phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Bị cáo không có tiền án tiền sự, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào và được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, vì vậy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng, không có mục đích kiếm lời, bị cáo không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng:

Về vật chứng vụ án: Số ma túy thu giữ của bị cáo được hoàn trả sau giám định cần tịch thu tiêu hủy. Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc làn của bị cáo đã bị quản lý không còn giá trị sử dụng, bị cáo không có nguyện vọng nhận lại.

Đối với chiếc xe mô tô biển số đăng ký 17F5- 9844 là tài sản hợp pháp của ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1961, trú tại thôn T, xã N, huyện V, tỉnh Thái Bình là bố đẻ của bị cáo, ông C không biết việc bị cáo sử dụng chiếc xe này vào việc phạm tội nên ngày 27/12/2017, Cơ quan điều tra Công an huyện Vũ Thư đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho ông C là có căn cứ nên Tòa án không xét.

Về các vấn đề khác trong vụ án:

Đối với người phụ nữ bán ma túy cho bị cáo chưa xác định được tên và địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt: Nguyễn Đức V 01 năm 06 tháng tù.Thời hạn tù tính từ ngày 05/12/2017.

3. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015: Tịch thu tiêu hủy 0,1298 gam ma túy, loại Hêrôin được niêm phong trong phong bì hoàn trả mẫu vật gửi giám định số 473/KLGĐ-PC54 ngày 05/12/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình; 01 chiếc làn nhựa màu xanh, đỏ.

(Vật chứng đang được Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình quản lý theo phiếu nhập kho ngày 12/01/2018)

4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 06/02/2018. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình;

- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình;

- Công an huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình;

- Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình;

- Lưu.

Nguyễn Thị Hƣơng

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Thị Hƣơng

Cỡ chữ