vanban.org

Bản án 13/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái Tuyên án 24/05/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đối với các bị cáo Lý Văn X; Lý Văn S; Lý Văn T: Căn cứ vào khoản 1 điều 321; điểm i, s khoản 1; 2 điều 51; khoản 1, 2 điều 5 Bộ luật Hình sự.

Đối với các bị cáo Bàn Văn V: Căn cứ vào khoản 1 điều 321; điểm i, s khoản 1 điều 51Bộ luật Hình sự. Đối với các bị cáo Lý Văn Q; Đ ng Văn T; Lý Văn S; Lý Thị V; Nguy n Trùng Đ; Đ ng Thị S: Căn cứ vào khoản 1 điều 321; điểm i, s khoản 1 điều 51; khoản 1, 2 điều 5 Bộ luật Hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "BẢN ÁN LÝ VĂN X CÙNG ĐỒNG PHẠM - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Đối với các bị cáo Lý Văn X; Lý Văn S; Lý Văn T: Căn cứ vào khoản 1 điều 321; điểm i, s khoản 1; 2 điều 51; khoản 1, 2 điều 5 Bộ luật Hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 5 Bộ luật Hình sự; Điều 10 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĂN YÊN
TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2018/HS-ST
Ngày: 24-5-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN YÊN, TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Chu Thị Thoảng

Các Hội thẩm nhân dân:

ng Tr n Hoài Sơn

ng Đoàn Văn Hà

- Thư ký phiên toà: ng Nguy n Minh Tuấn – Thư ký Toà án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái: ng Lương Xuân Toản - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 11/2018/TLST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2018/QĐXXST-HS ngày 08/5/2018 đối với các bị cáo:

1. Lý Văn X tên họi khác: S sinh ngày 12 tháng 8 năm 1991. Tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái. Nơi cư trú: Thôn T, xã B, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lý Quang V, sinh năm 1953 và bà Đ ng Thị M, sinh năm 19 1; Bị cáo có vợ là: Triệu Thị T, sinh năm 1993 và 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nh sinh năm 2017; Tiền án, Tiền sự: Không.

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn ch n Cấm đi kh i nơi cư trú theo Lệnh số 15/LCĐKNCT ngày 23/2/2018 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Văn Yên, hiện tại ngoại tại thôn T, xã B, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái – Có m t.

2. Lý Văn S, sinh ngày 20 tháng 3 năm 1987. Tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái. Nơi cư trú: Thôn T, xã B, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lý Văn T đã chết và bà Tr n Thị N, sinh năm 19 1; Bị cáo có vợ là: Đ ng Thị C, sinh năm 1990 và 03 con, con lớn sinh năm 2007, con nh sinh năm 2010; Tiền án, Tiền sự: Không.

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn ch n Cấm đi kh i nơi cư trú theo Lệnh số 03/LCĐKNCT ngày 23/2/2018 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Văn Yên, hiện tại ngoại tại thôn T, xã B, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái – Có m t.

3. Lý Văn T, sinh ngày 05 tháng 10 năm 1988. Tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái. Nơi cư trú: Thôn T, xã B, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lý Quang V, sinh năm 1953 và bà Đ ng Thị M, sinh năm 19 1; Bị cáo có vợ là: Bàn Thị T, sinh năm 1988 và 02 con, con lớn sinh năm 2008, con nh sinh năm 2014; Tiền án, Tiền sự: Không.

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn ch n Cấm đi kh i nơi cư trú theo Lệnh số 14/LCĐKNCT ngày 23/2/2018 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Văn Yên, hiện tại ngoại tại thôn T, xã B, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái – Có m t.

4. Bàn Văn V, sinh ngày 23 tháng 9 năm 1984. Tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái. Nơi cư trú: Thôn T, xã B, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Không biết chữ; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Bàn Văn L bố dượng và bà Lý Thị T, sinh năm 19 0; Bị cáo có vợ là: Lý Thị N, sinh năm 1983 và 02 con, con lớn sinh năm 2004, con nh sinh năm 2005; Tiền án, Tiền sự: Không.

Bị cáo bị b t tạm giữ từ ngày 02/2/2018 đến ngày 05/2/2018 được thay thế b ng biện pháp ngăn ch n Cấm đi kh i nơi cư trú sau đó b trốn. Ngày 10/4/2018 bị b t theo Quyết định truy nã – Hiện đang tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Yên Bái – Có m t.

5. Lý Văn T, sinh ngày 10 tháng năm 1994. Tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái. Nơi cư trú: Thôn T, xã B, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: /12; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lý Văn L, sinh năm 1975 và bà Lý Thị L, sinh năm 197 ; Bị cáo có vợ là: Đ ng Thị T, sinh năm 1993 và 01 con sinh năm 2017; Tiền án, Tiền sự: Không.

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn ch n Cấm đi kh i nơi cư trú theo Lệnh số 17/LCĐKNCT ngày 21/3/2018 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Văn Yên, hiện tại ngoại tại thôn T, xã B, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái – Có m t.

6. Đặng Văn T, sinh ngày 10 tháng 11 năm 1985. Tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái. Nơi cư trú: Thôn T, xã B, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đ ng Văn T, sinh năm 19 5 và bà Tr n Thị T, sinh năm 19 ; Bị cáo có vợ là: Lý Thị Đ, sinh năm 1988 và 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nh sinh năm 2017; Tiền án, Tiền sự: Không.

Bị cáo bị b t tạm giữ từ ngày 02/2/2018 đến ngày 05/2/2018 được thay thế b ng biện pháp ngăn ch n Cấm đi kh i nơi cư trú theo Lệnh số 05/LCĐKNCT ngày 05/2/2018 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Văn Yên, hiện tại ngoại tại thôn T, xã B, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái – Có m t.

7. Lý Văn Q, sinh ngày 08 tháng năm 198 . Tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái. Nơi cư trú: Thôn R, xã B, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lý Văn S, sinh năm 1945 và bà Đ ng Thị N, sinh năm 1947; Bị cáo có vợ là: Đ ng Thị T, sinh năm 1988 và 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nh sinh năm 2017; Tiền án, Tiền sự: Không.

Bị cáo bị b t tạm giữ từ ngày 02/2/2018 đến ngày 05/2/2018 được thay thế b ng biện pháp ngăn ch n Cấm đi kh i nơi cư trú theo Lệnh số 08/LCĐKNCT ngày 05/2/2018 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Văn Yên, hiện tại ngoại tại thôn R, xã B, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái – Có m t.

8. Lý Văn S, sinh ngày 21 tháng 12 năm 1980. Tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái. Nơi cư trú: Thôn R, xã B, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 01/12; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lý Văn S, sinh năm 1945 và bà Đ ng Thị N, sinh năm 1947; Bị cáo có vợ là: Trương Thị T, sinh năm 1979 và 02 con, con lớn sinh năm 2002, con nh sinh năm 2004; Tiền án, Tiền sự: Không.

Bị cáo bị b t tạm giữ từ ngày 02/2/2018 đến ngày 05/2/2018 được thay thế b ng biện pháp ngăn ch n Cấm đi kh i nơi cư trú theo Lệnh số 07/LCĐKNCT ngày 05/2/2018 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Văn Yên, hiện tại ngoại tại thôn R, xã B, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái – Có m t.

9. Lý Thị V, sinh ngày 07 tháng năm 198 . Tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái. Nơi cư trú: Thôn T, xã B, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: Không biết chữ; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lý Văn T, sinh năm 195 và bà Triệu Thị M, sinh năm 195 ; Bị cáo có chồng là: Đ ng Văn T, sinh năm 1989 và 02 con, con lớn sinh năm 2008, con nh sinh năm 2011; Tiền án, Tiền sự: Không.

Bị cáo bị b t tạm giữ từ ngày 02/2/2018 đến ngày 05/2/2018 được thay thế b ng biện pháp ngăn ch n Cấm đi kh i nơi cư trú theo Lệnh số 09/LCĐKNCT ngày 05/2/2018 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Văn Yên, hiện tại ngoại tại thôn R, xã B, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái – Có m t.

10. Nguyễn Trùng Đ, sinh ngày 20 tháng 11 năm 1984. Tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái. Nơi cư trú: Thôn C, xã Đ, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguy n Thanh M đã chết và bà Nguy n Hoài T, sinh năm 1959; Bị cáo có vợ là: Nông Thị H, sinh năm 1985 và 02 con, con lớn sinh năm 2008, con nh sinh năm 2010; Tiền án, Tiền sự: Không.

Bị cáo bị b t tạm giữ từ ngày 02/2/2018 đến ngày 05/2/2018 được thay thế b ng biện pháp ngăn ch n Cấm đi kh i nơi cư trú theo Lệnh số 04/LCĐKNCT ngày 05/2/2018 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Văn Yên, hiện tại ngoại tại thôn C, xã Đ, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái – Có m t.

11. Trần Văn H, sinh ngày 15 tháng 9 năm 1990. Tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái. Nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Tr n Duy Đ, sinh năm 19 3 và bà Nguy n Thị K, sinh năm 19 5; Bị cáo có vợ là: Hà Thị N, sinh năm 1994 và 01 con sinh năm 2011; Tiền án, Tiền sự: Không.

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn ch n Cấm đi kh i nơi cư trú theo Lệnh số 1 /LCĐKNCT ngày 23/2/2018 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Văn Yên, hiện tại ngoại tại thôn T, xã Đ, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái – Có m t.

12. Đặng Thị S, sinh ngày 24 tháng 4 năm 1959. Tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái. Nơi cư trú: Thôn R, xã B, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: Không biết chữ; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đ ng Văn C đã chết và bà Chu Thị K, sinh năm 1937; Bị cáo có chồng là: Vi Xuân Đ, sinh năm 1957 và 0 con, con lớn sinh năm 1978, con nh sinh năm 1995; Tiền án, Tiền sự: Không.

Bị cáo bị b t tạm giữ từ ngày 02/2/2018 đến ngày 05/2/2018 được thay thế b ng biện pháp ngăn ch n Cấm đi kh i nơi cư trú theo Lệnh số 10/LCĐKNCT ngày 05/2/2018 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Văn Yên, hiện tại ngoại tại thôn R, xã B, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái – Có m t.

- Ng i bào ch a cho các b cáo Lý Văn X; Lý Văn S; Lý Văn T; Lý Văn T; Đ ng Văn T; Lý Văn Q; Lý Văn S; Lý Thị V; Đ ng Thị S; Bàn Văn V theo giới thiệu của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Yên Bái: Bà Hà Thị Lê – Trợ giúp viên pháp lý – Có m t.

- Ng i tham gia t t ng khác:

Người làm chứng:

- Chị Bàn Thị P trú tại: Thôn K, xã B, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái – V ng m t.

- Anh Đ ng Văn Đ trú tại: Thôn K, xã B, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái – V ng m t.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và di n biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm t t như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 02/02/2018 Đ ng Văn T; Lý Văn X; Lý Văn S; Lý Văn T; Lý Văn Q đến quán nước của anh Vi Văn B Tên thường gọi là B ở thôn R, xã B để uống nước và chơi Bi-a. Khi đang chơi Bi-a thì X và S rủ Q, T, T đi vào lán nương của gia đình ông Đ ng Văn Đ ở thôn R để đánh bạc, tất cả cùng đồng ý. Sau đó X điều khiển xe mô tô chở S, T chở Q, còn T đi một mình một xe cùng vào lán nhà ông Đ. Khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày thì đến nơi, khi đó trong lán có Lý Thị V; Lý Văn T đều trú tại thôn T, xã B và khoảng 20 người dân đi nhổ s n cho nhà ông Đ đang nghỉ ngơi. Khoảng 15 phút sau thì mọi người đi nhổ s n, trong lán chỉ còn lại X, S, Q, T, T, Vvà T, lúc này các đối tượng liền rủ nhau đánh bạc. X lấy một bộ bát đĩa b ng sứ ở trên chạn bát, còn T làm 04 quân xóc c t từ que đóm, một m t được bôi đen, sau đó tất cả cùng nhau đánh bạc b ng hình thức xóc đĩa được thua b ng tiền. Khi b t đ u chơi thì X là người c m cái xóc cho Q, T, T, S đánh bạc với nhau, còn V và T đứng xem, T lấy 05 quân bài tú lơ khơ làm vị và ngồi c m vị, được một lúc không thấy có ai đánh vị nên T không c m vị nữa mà tham gia đánh bạc cùng mọi người. X c m cái được khoảng 15 phút thì chuyển cho S c m cái, lúc này V và T cũng vào tham gia đánh bạc. Một lúc sau thì có Lý Văn S; Bàn Văn V; Nguy n Trùng Đ; Tr n Văn H; Đ ng Thị S; Bàn Thị P cùng một số người nữa đến và cũng vào tham gia đánh bạc, riêng Bàn Thị P không tham gia, mà chỉ đứng xem khoảng 15 phút rồi đi bộ về trước. Đến 16 giờ cùng ngày khi các đối tượng đang đánh bạc với nhau, thì bị tổ công tác Công an huyện Văn Yên phát hiện b t quả tang. Trong lúc b t giữ, lợi dụng sơ hở một số đối tượng đã b chạy, Tổ công tác đã b t giữ được 07 người gồm: Đ ng Văn T, Bàn Văn V, Lý Văn S, Lý Văn Q, Lý Thị V, Đ ng Thị S, Nguy n Trùng Đ và thu giữ một số vật chứng gồm: Tiền do Ngân hàng nhà nước Việt Nam phát hành 15.710.000đ trong đó: Thu trên chiếu bạc là 11.200.000đ, thu trên người các đối tượng: 4.510.000đ ; 01 bát sứ màu tr ng; 01 đĩa sứ màu tr ng; 04 quân xóc được c t b ng que đóm.

Đến ngày 12/02/2018 Lý Văn X, Lý Văn T, Lý Văn S ra đ u thú. Ngày 20/02/2018 Tr n Văn H ra đ u thú. Ngày 21/3/2018 Lý Văn T ra đ u thú.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Văn Yên đã làm rõ được số tiền mà các đối tượng sử dụng vào mục đích đánh bạc ngày 02/02/2018 tại thôn R, xã B, cụ thể:

Đ ng Văn T mang theo 3.150.000đ để đánh bạc, đến khi bị b t đã b hết tiền xuống chiếu bạc, nên không rõ th ng hay thua.

Bàn Văn V mang theo 210.000đ tham gia đánh bạc và th ng được 900.000đ, khi bị b t Cơ quan điều tra thu giữ trên người Văn số tiền 1.110.000đ.

Lý Văn S mang theo 500.000đ để đánh bạc và bị thua hết, S xin Lý Văn Q 200.000đ tiếp tục đánh và lại thua hết.

Lý Văn Q mang theo 1.000.000đ để đánh bạc, trong lúc chơi Q cho Lý Văn S 200.000đ. Khi bị b t Cơ quan điều tra thu giữ trên người Q 2.000.000đ, trong đó: 1.000.000đ là tiền b ra để đánh bạc, còn 1.000.000đ là tiền th ng bạc.

Lý Thị V mang theo 500.000đ để đánh bạc, quá trình đánh V th ng được 400.000đ, cho Đ ng Thị S vay 100.000đ. Khi bị b t quả tang, V b 300.000đ th ng bạc xuống chiếu, còn 500.000đ cất giấu trên người bị Cơ quan điều tra thu giữ.

Đ ng Thị S không mang theo tiền, khi đứng xem đã vay của Lý Thị V 100.000đ để tham gia đánh bạc và th ng được 500.000đ, S trả lại cho V 100.000đ, còn 500.000đ cất trên người bị Cơ quan điều tra thu giữ.

Nguy n Trùng Đ có 180.000đ, tại nơi đánh bạc Tr n Văn H trả cho Đ 250.000đ tiền chở xe ôm. Đ b ra 30.000đ tham gia đánh bạc bị thua hết, Đ không đánh nữa và đứng ngoài xem. Khi bị b t Cơ quan điều tra thu giữ trên người Đ 400.000đ, Đ khai không sử dụng số tiền này vào mục đích đánh bạc.

Tr n Văn H mang theo khoảng 2.000.000đ để đánh bạc, quá trình đánh H th ng và trả cho Đ 250.000đ tiền chở xe ôm. Khi Cơ quan điều tra b t quả tang, H đã chạy trốn và b lại toàn bộ tiền tại chiếu bạc.

Lý Văn X mang theo 400.000đ để đánh bạc. Khi Cơ quan điều tra b t quả tang X b lại toàn bộ tiền tại chiếu bạc và chạy trốn, nên không biết th ng hay thua.

Lý Văn T mang theo 300.000đ tham gia đánh bạc và bị thua hết.

Lý Văn S có 800.000đ tham gia đánh bạc, khi Cơ quan điều tra b t quả tang S đã b chạy, để lại tại chiếu bạc khoảng 2.200.000đ gồm tiền mang đi đánh bạc và tiền th ng bạc.

Lý Văn T mang theo 40.000đ tham gia đánh bạc và bị thua hết.

Tại bản cáo trạng số: 10/CT-VKS-VY ngày 23/4/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái đã truy tố các bị cáo Đ ng Văn T; Bàn Văn V; Lý Văn S; Lý Văn Q; Lý Thị V; Đ ng Thị S; Nguy n Trùng Đ; Lý Văn X; Tr n Văn H; Lý Văn S; Lý Văn T; Lý Văn T về tội Đánh bạc theo khoản 1 điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên giữ quyền công tố luận tội và tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Đ ng Văn T; Bàn Văn V; Lý Văn S; Lý Văn Q; Lý Thị V; Đ ng Thị S; Nguy n Trùng Đ; Lý Văn X; Tr n Văn H; Lý Văn S; Lý Văn T; Lý Văn T phạm tội Đánh bạc và đề nghị HĐXX:

p dụng khoản 1 điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 điều 51; khoản 1, 2 điều 5 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lý Văn X và Lý Văn S từ 09 tháng đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng.

p dụng khoản 1 điều 321; điểm i, s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Bàn Văn V từ 0 tháng đến 09 tháng tù.

p dụng khoản 1 điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 điều 51; khoản 1, 2 điều 5 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lý Văn T, Lý Văn T, Tr n Văn H từ 0 tháng đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng.

p dụng khoản 1 điều 321; điểm i, s khoản 1 điều 51; khoản 1, 2 điều 5 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đ ng Văn T, Lý Văn Q, Lý Thị V từ 0 tháng đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng.

p dụng khoản 1 điều 321; điểm i, s khoản 1 điều 51; điều 3 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lý Văn S; Đ ng Thị S; Nguy n Trùng Đ từ 0 tháng đến 09 tháng cải tạo không giam giữ.

Về xử lý vật chứng: p dụng khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 điều 10 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu sung qu Nhà nước số tiền 15.5 0.000đồng thu giữ khi b t quả tang trong đó trên chiếu bạc là 11.200.000đồng; Bàn Văn V là 1.110.000đồng; Lý Văn Q là 2.000.000đồng; Lý Thị V là 500.000đồng; Đ ng Thị S là 500.000đồng; Nguy n Trùng Đ là 400.000đồng .

Trả lại cho Nguy n Trùng Đ 150.000đồng đây là số tiền không liên quan đến vụ án .

Các vật chứng còn lại không có giá trị c n tịch thu tiêu hủy gồm có:

01 chiếc bát con loại bát ăn cơm b ng sứ màu tr ng

01 chiếc đĩa b ng sứ màu tr ng có đường kính khoảng 15cm

04 quân vị hình chữ nhật được c t từ que đóm.

Về án phí: p dụng khoản 2 điều 13 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số: 32 /201 / BTVQH 14 ngày 30/12/201 . Các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định pháp luật.

Người bào chữa cho các bị cáo Đ ng Văn T; Lý Văn S; Lý Văn Q; Lý Thị V; Đ ng Thị S; Lý Văn X; Lý Văn S; Lý Văn T; Lý Văn T; Bàn Văn V nhất trí với tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã rõ ràng. Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội do nhận thức pháp luật còn hạn chế. Các bị cáo là người dân tộc thiểu số, trình độ văn hóa thấp. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; phạm tội l n đ u thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Sau khi vụ việc bị phát hiện các bị cáo Lý Văn X; Lý Văn S; Lý Văn T; Lý Văn T đã ra đ u thú trước pháp luật. Các bị cáo sống tại địa phương tham gia đ y đủ các nghĩa vụ của một công dân; các bị cáo đều là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự gì và có nơi cư trú rõ ràng. Bị cáo Đ ng Văn T, Lý Văn S; Lý Văn Q; Bàn Văn V thuộc diện hộ ngh o. Các bị cáo Lý Văn T; Lý Thị V; Đ ng Thị S; Lý Văn X; Lý Văn S; Lý Văn T tuy không phải hộ ngh o nhưng điều kiện hoàn cảnh kinh tế rất khó khăn, việc làm thì không ổn định. Từ những căn cứ nêu trên tôi đề nghị HĐXX. p dụng các quy định của pháp luật xử phạt các bị cáo như sau:

p dụng khoản 1 điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 điều 51; khoản 1, 2 điều 5 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lý Văn X và Lý Văn S 09 tháng tháng tù cho hưởng án treo.

p dụng khoản 1 điều 321; điểm i, s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Bàn Văn V 0 tháng tù.

p dụng khoản 1 điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 điều 51; khoản 1, 2 điều 5 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lý Văn T, Lý Văn Ti 0 tháng tù cho hưởng án treo.

p dụng khoản 1 điều 321; điểm i, s khoản 1 điều 51; khoản 1, 2 điều 5 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đ ng Văn T, Lý Văn Q, Lý Thị V 0 tháng tù cho hưởng án treo.

p dụng khoản 1 điều 321; điểm i, s khoản 1 điều 51; điều 3 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lý Văn S; Đ ng Thị S 0 tháng cải tạo không giam giữ.

Các bị cáo nhất trí lời bào chữa của trợ giúp viên pháp lý. Các bị cáo không tranh luận gì thêm. Kính mong Hội đồng xét xử, xử phạt các bị cáo ở mức thấp nhất.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nh hình phạt cho các bị cáo để sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét h i, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

1 Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an và Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái. Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến ho c khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

2 Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của những người làm chứng và phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án mà Cơ quan điều tra đã thu thập.

3 Đã có đủ cơ sở kết luận: Hồi 1 giờ ngày 02/2/2018 Đ ng Văn T; Bàn Văn V; Lý Văn S; Lý Văn Q; Lý Thị V; Đ ng Thị S; Nguy n Trùng Đ; Lý Văn X; Tr n Văn H; Lý Văn S; Lý Văn T; Lý Văn Ti đang cùng nhau đánh bạc b ng hình thức xóc đĩa được thua b ng tiền thì bị Công an huyện Văn Yên b t quả tang, thu giữ vật chứng gồm có: 01 bát sứ, 01 đĩa sứ, 04 quân sóc làm từ que đóm và 15.710.000đồng Mười năm triệu bẩy trăm mười ngàn đồng là tiền của các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc.

Xét vai trò của từng bị cáo trong vụ án thấy r ng:

Đối với Lý Văn X và Lý Văn S là những người khởi xướng, rủ rê, chuẩn bị công cụ và trực tiếp c m cái xóc cho các đối tượng khác đánh bạc. Vì vậy X và S phải chịu trách nhiệm hình sự với vai trò chính trong vụ án.

Đối với Lý Văn T có hành vi chuẩn bị quân vị và ngồi c m vị để mọi người đánh bạc và cùng tham gia đánh bạc. Vì vậy T phải chịu trách nhiệm hình sự với vai trò thứ hai trong vụ án.

Các bị cáo Bàn Văn V; Đ ng Văn T; Lý Văn S; Lý Văn Q; Lý Thị V; Đ ng Thị S; Nguy n Trùng Đ; Tr n Văn H; Lý Văn Ti đã có hành vi tham gia đánh bạc b ng hình thức xóc đĩa được thua b ng tiền. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là: 15.5 0.000đồng. Do vậy các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với vai trò đồng phạm trong vụ án về hành vi phạm tội của mình.

Từ những phân tích trên đã đủ cơ sở kết luận các bị cáo: Đ ng Văn T; Bàn Văn V; Lý Văn S; Lý Văn Q; Lý Thị V; Đ ng Thị S; Nguy n Trùng Đ; Lý Văn X; Tr n Văn H; Lý Văn S; Lý Văn T; Lý Văn Ti phạm tội Đánh bạc quy định tại khoản 1 điều 321 Bộ luật Hình sự.

4 Về hành vi phạm tội của các bị cáo Hội đồng xét xử thấy r ng. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, có nguy cơ đe dọa đến tính mạng, sức kh e, tài sản của công dân, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an trên địa bàn. M c dù nhận thức rõ hành vi đánh bạc là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố tình thực hiện, mục đích nh m chiếm đoạt tiền bạc, tài sản của nhau để th a mãn nhu c u của bản thân.

5 Về nhân thân: Các bị cáo Đ ng Văn T; Bàn Văn V; Lý Văn S; Lý Văn Q; Lý Thị V; Đ ng Thị S; Nguy n Trùng Đ; Lý Văn X; Tr n Văn H; Lý Văn S; Lý Văn T; Lý Văn Ti là những người chưa có tiền án, tiền sự và có nhân thân tốt nhưng các bị cáo không kìm chế được bản thân mà lao vào con đường phạm tội. Đây thể hiện sự coi thường pháp luật và ý thức r n luyện bản thân của các bị cáo là rất kém. Do vậy c n phải có mức án phù hợp, tương xứng với hành vi phạm tội mà từng bị cáo đã gây ra.

Về tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không có.

7 Về tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra vụ án và tại phiên toà hôm nay các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, các bị cáo phạm tội l n đ u thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là tình tiết giảm nh quy định tại điểm i, s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự mà các bị cáo được hưởng.

Các bị cáo Lý Văn X; Lý Văn S; Lý Văn T; Lý Văn Ti; Tr n Văn H sau khi phạm tội đã ra đ u thú tại Công an huyện Văn Yên nên năm bị cáo này được hưởng thêm tình tiết giảm nh quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, đ c điểm nhân thân và các tình tiết tăng n ng, giảm nh trách nhiệm hình sự. Xét thấy c n phải có mức án phù hợp với các bị cáo:

Các bị cáo Lý Văn X; Lý Văn S là người khởi xướng, rủ rê và chuẩn bị công cụ và c m cái xóc đĩa để đánh bạc nên hai bị cáo này phải chịu trách nhiệm hình sự chính với vai trò thứ nhất trong vụ án. Bị cáo Lý Văn T có hành vi chuẩn bị quân vị và ngồi c m vị để mọi người đánh bạc và cùng tham gia đánh bạc, do vậy bị cáo T phải chịu trách nhiệm hình sự với vai trò thứ hai trong vụ án. Ba bị cáo đều có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, không có tình tiết tăng n ng, có nhiều tình tiết giảm nh . Xét thấy không c n thiết phải cách ly các bị cáo ra kh i xã hội cũng có thể giáo dục cải tạo các bị cáo thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước đối với người phạm tội.

Đối với Bàn Văn V sử dụng 210.000đồng để đánh bạc cùng các bị cáo. Bị cáo là đồng phạm trong vụ án và là người phạm tội có vị trí, vai trò thứ yếu không đáng kể trong vụ án. Trong khi áp dụng Lệnh cấm đi kh i nơi cư trú trong quá trình điều tra vụ án, bị cáo đã không chấp hành và đã b trốn kh i địa phương. Cơ quan điều tra đã b t bị cáo theo Lệnh truy nã. Để đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm nói chung. Do vậy c n cách ly bị cáo ra kh i đời sống xã hội một thời gian nhất định nh m giáo dục, cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội và đáp ứng được yêu c u đấu tranh với tội phạm trong giai đoạn hiện nay.

Bị cáo Đ ng Văn T sử dụng 3.150.000đồng; Lý Văn Q sử dụng 1.000.000đồng; Tr n Văn H sử dụng 2.000.000đồng; Lý Văn S sử dụng 500.000đồng; Lý Thị V sử dụng 500.000đồng; Đ ng Thị S sử dụng 100.000đồng; Nguy n Trùng Đ sử dụng 30.000đồng; Lý Văn T sử dụng 40.000đồng để đánh bạc. Các bị cáo là đồng phạm và đều có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, không có tình tiết tăng n ng, có nhiều tình tiết giảm nh . Các bị cáo S; V; S; Đ; Ti là người phạm tội có vị trí, vai trò thứ yếu không đáng kể trong vụ án. Xét thấy không c n thiết phải cách ly các bị cáo ra kh i xã hội cũng có thể giáo dục cải tạo các bị cáo thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước đối với người phạm tội.

8 Về hình phạt bổ sung: Qua xác minh tại địa phương thấy r ng các bị cáo Đ ng Văn T; Lý Văn S; Lý Văn Q; Bàn Văn V gia đình thuộc diện hộ ngh o trong xã. Các bị cáo Lý Văn X; Lý Văn S; Lý Văn T; Lý Văn Ti; Lý Thị V; Nguy n Trùng Đ; Tr n Văn H; Đ ng Thị S không có việc làm và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với 12 bị cáo và mi n việc khấu trừ một ph n thu nhập sung qu Nhà nước cho các bị cáo đủ điều kiện áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ.

Ngoài ra theo lời khai của các bị cáo Do không biết tên, tuổi, địa chỉ của những đối tượng này, nên Cơ quan điều tra không có đủ cơ sở để xác minh, xử lý và không xác định được số tiền những đối tượng này đã sử dụng để đánh bạc là bao nhiêu, th ng thua như thế nào.

10 Đối với Bàn Thị P ngày 02/02/2018 đã có m t tại nơi đánh bạc, nhưng P chỉ đứng ngoài xem chứ không tham gia đánh bạc, nên Cơ quan điều tra không đề cập việc xử lý là phù hợp.

11 Đối với ông Đ ng Văn Đ đã để cho các đối tượng đánh bạc tại lán nương của gia đình mình, nhưng do ông Đ không biết việc các đối tượng đánh bạc tại lán nương của gia đình ông. Nên Cơ quan điều tra không xem xét đến trách nhiệm hình sự đối với ông Đ là đúng quy định của pháp luật.

Về vật chứng của vụ án:

Đối với số tiền 15.710.000đồng thu giữ khi b t quả tang trong đó trên chiếu bạc là 11.200.000đồng; Bàn Văn V là 1.110.000đồng; Lý Văn Q là 2.000.000đồng; Lý Thị V là 500.000đồng; Đ ng Thị S là 500.000đồng; Nguy n Trùng Đ là 400.000đồng . Số tiền 15.5 0.000đồng là tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc c n tịch thu sung qu Nhà nước.

Trả lại cho Nguy n Trùng Đ 150.000đồng đây là số tiền không liên quan đến vụ án .

Các vật chứng là công cụ phương tiện phạm tội không còn giá trị sử dụng c n tịch thu tiêu hủy gồm có:

01 chiếc bát con loại bát ăn cơm b ng sứ màu tr ng

01 chiếc đĩa b ng sứ màu tr ng có đường kính khoảng 15cm

04 quân vị hình chữ nhật được c t từ que đóm.

12 Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

13 Các bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

ì các l trên:

QUYẾT ĐỊNH

- Đối với các bị cáo Lý Văn X; Lý Văn S; Lý Văn T: Căn cứ vào khoản 1 điều 321; điểm i, s khoản 1; 2 điều 51; khoản 1, 2 điều 5 Bộ luật Hình sự.

- Đối với các bị cáo Bàn Văn V: Căn cứ vào khoản 1 điều 321; điểm i, s khoản 1 điều 51Bộ luật Hình sự.

- Đối với các bị cáo Lý Văn Q; Đ ng Văn T; Lý Văn S; Lý Thị V; Nguy n Trùng Đ; Đ ng Thị S: Căn cứ vào khoản 1 điều 321; điểm i, s khoản 1 điều 51; khoản 1, 2 điều 5 Bộ luật Hình sự.

- Đối với các bị cáo Lý Văn Ti; Tr n Văn H: Căn cứ vào khoản 1 điều 321; điểm i, s khoản 1; 2 điều 51; 3 Bộ luật Hình sự.

- Căn cứ khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 điều 10 ; 13 ; 331; 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Căn cứ điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số: 32 /201 / BTVQH 14 ngày 30/12/201 .

1. V tội danh: Tuyên bố các bị cáo Đ ng Văn T; Lý Văn S; Lý Văn Q; Lý Thị V; Đ ng Thị S; Nguy n Trùng Đ; Lý Văn X; Tr n Văn H; Lý Văn S; Lý Văn Ti; Lý Văn Ti; Bàn Văn V phạm tội Đánh bạc .

2. V hình phạt:

* Xử phạt bị cáo Lý Văn X 01 một năm 03 ba tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 hai năm 0 sáu tháng. Kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Lý Văn X cho uỷ ban nhân dân xã B, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái cùng gia đình giám sát, giáo dục.

Trong thời gian thử thách nếu bị cáo Lý Văn X thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 điều 69 Luật thi hành án hình sự.

* Xử phạt bị cáo Lý Văn S 01 một năm 03 ba tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 hai năm 0 sáu tháng. Kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Lý Văn S cho uỷ ban nhân dân xã B, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái cùng gia đình giám sát, giáo dục.

Trong thời gian thử thách nếu bị cáo Lý Văn S thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 điều 69 Luật thi hành án hình sự.

* Xử phạt bị cáo Lý Văn T 01 một năm tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 hai năm. Kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Lý Văn T cho uỷ ban nhân dân xã B, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái cùng gia đình giám sát, giáo dục.

Trong thời gian thử thách nếu bị cáo Lý Văn T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 điều 69 Luật thi hành án hình sự.

* Xử phạt bị cáo Lý Văn Q 09 chín tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 mười tám tháng. Kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Lý Văn Q cho uỷ ban nhân dân xã B, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái cùng gia đình giám sát, giáo dục.

Trong thời gian thử thách nếu bị cáo Lý Văn Q thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 điều 69 Luật thi hành án hình sự.

* Xử phạt bị cáo Đ ng Văn T 09 chín tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 mười tám tháng. Kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Đ ng Văn T cho uỷ ban nhân dân xã B, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái cùng gia đình giám sát, giáo dục.

Trong thời gian thử thách nếu bị cáo Đ ng Văn T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 điều 69 Luật thi hành án hình sự.

* Xử phạt bị cáo Bàn Văn V 0 sáu tháng tù. Được khấu trừ 03 ngày tạm giữ 02/2/2018 đến ngày 05/2/2018 . Bị cáo còn phải chấp hành 05 năm tháng 27 hai bẩy ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/4/2018.

* Xử phạt bị cáo Lý Văn S 0 sáu tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 mười hai tháng. Kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Lý Văn S cho uỷ ban nhân dân xã B, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái cùng gia đình giám sát, giáo dục.

Trong thời gian thử thách nếu bị cáo Lý Văn S thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 điều 69 Luật thi hành án hình sự.

* Xử phạt bị cáo Lý Thị V 0 sáu tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 mười hai tháng. Kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Lý Thị V cho uỷ ban nhân dân xã B, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái cùng gia đình giám sát, giáo dục.

Trong thời gian thử thách nếu bị cáo Lý Thị V thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 điều 69 Luật thi hành án hình sự.

* Xử phạt bị cáo Đ ng Thị S 0 sáu tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 mười hai tháng. Kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Đ ng Thị S cho uỷ ban nhân dân xã B, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái cùng gia đình giám sát, giáo dục.

Trong thời gian thử thách nếu bị cáo Đ ng Thị S thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 điều 69 Luật thi hành án hình sự.

* Xử phạt bị cáo Nguy n Trùng Đ 0 sáu tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 mười hai tháng. Kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguy n Trùng Đ cho uỷ ban nhân dân xã Đ, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái cùng gia đình giám sát, giáo dục.

Trong thời gian thử thách nếu bị cáo Nguy n Trùng Đ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Xử phạt bị cáo Tr n Văn H 09 chín tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ của bị cáo tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo cho BND xã Đ, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Xử phạt bị cáo Lý Văn Ti 0 sáu tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ của bị cáo tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo cho BND xã B, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

3. V v t ch ng v án:

Tịch thu sung qu Nhà nước số tiền 15.5 0.000đồng thu giữ khi b t quả tang trong đó trên chiếu bạc là 11.200.000đồng; Bàn Văn V là 1.110.000đồng; Lý Văn Q là 2.000.000đồng; Lý Thị V là 500.000đồng; Đ ng Thị S là 500.000đồng; Nguy n Trùng Đ là 400.000đồng .

Trả lại cho Nguy n Trùng Đ 150.000đồng đây là số tiền không liên quan đến vụ án nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm có:

01 chiếc bát con loại bát ăn cơm b ng sứ màu tr ng

01 chiếc đĩa b ng sứ màu tr ng có đường kính khoảng 15cm

04 quân vị hình chữ nhật được c t từ que đóm.

Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/4/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái.

4. V án phí: Các bị cáo Đ ng Văn T; Lý Văn S; Lý Văn Q; Lý Thị V; Đ ng Thị S; Nguy n Trùng Đ; Lý Văn X; Tr n Văn H; Lý Văn S; Lý Văn T; Lý Văn Ti; Bàn Văn V m i bị cáo phải chịu 200.000đồng tiền án phí HSST.

5. V quy n kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Tr ng hợp bản án, quyết đ nh đ ợc thi hành theo quy đ nh tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì ng i đ ợc thi hành án dân sự, ng i phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc b c ỡng chế thi hành án theo quy đ nh tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Th i hiệu thi hành án đ ợc thực hiện theo quy đ nh tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ