- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Đức Thiện - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Đức T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 100/2015/QH13 Phê duyệt chủ trương đầu tư các…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2018/HS - ST Ngày 23/3/2018. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Tạ Thị Hồng Ngân.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Mạnh Hùng;
2. Ông Hoàng Văn Đàm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Anh Nhinh – Thư kýTòa án nhân dân
huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh tham gia phiên tòa:
Bà Lê Khánh Trang – Kiểm sát viên.
Ngày 23/3/2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh,tỉnh Phú Thọ,
xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 05/2018/TLST - HS ngày 11/01/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2018/QĐXXST – HS ngày 09/3/2018 đối với bị cáo:
Lê Đức T, SN 1989; Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Khu
Tiến Mới, TT LT, huyện LTo, tỉnh P; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Đức T và bà Lê Thị N; Vợ: Tạ Thị N; Con: Có 01 con (sinh năm 2014); Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam. Hiện đang tại ngoại tại khu Tiến
Mới, TT LT, huyện LT, tỉnh P. Hôm nay, có mặt.
Người bị hại: Anh Nguyễn Quang H, sinh năm 1987 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Khu 8, xã L, huyện P, tỉnh P.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 02/9/2017, anh Nguyễn Quang H, SN 1987; chị
Nguyễn Thị Kiều H - sinh năm 1989, trú tại khu 2 xã L, huyện P, tỉnh P; chị Lê Thị H - sinh năm 1989, trú tại khu 14, phường M, thành phố V, tỉnh Ph; chị Lê Thị P - sinh năm 1989, trú tại khu 9, xã L, huyện P, tỉnh P; chị Vũ Thị Hồng L - sinh năm 1989, trú tại khu 6, xã N, huyện P, tỉnh P; anh Nguyễn Đức T - sinh năm 1989, trú tại khu 4, xã L, huyện P, tỉnh P; anh Hà Mạnh Cg - sinh năm 1989, trú tại khu 6, xã L, huyện P, tỉnh P; anh Đinh Văn P - sinh năm 1989, trú tại khu 5, xã L, huyện P, tỉnh P; anh Nguyễn Anh T - sinh năm 1989, trú tại khu 11, xã L, huyện P, tỉnh P; anh Hoàng Minh T - sinh năm 1989 và anh Nguyễn Quang T - sinh năm 1989, đều trú tại khu 10, xã L, huyện P, tỉnh P, cùng một số người là bạn học cùng lớp tại trường Trung học cơ sở xã L tổ chức họp lớp, ăn và uống rượu tại quán Lẩu TL thuộc khu Rừng Mận, thị trấn P, huyện P, tỉnh P. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, sau khi ăn uống xong, anh H và số người trên đi đến quán Karaoke Huy Anh thuộc khu N, thị trấn P, huyện P, vào phòng P05 ở tầng 3 của quán để hát và uống bia. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, Lê Đức T - sinh năm 1989, trú tại khu Tiến Mới, TT LT, huyện LT, tỉnh P, là bạn học cùng lớp với anh H, đi xe ô tô biển kiểm soát 19A-116.39, cùng với con trai là cháu lê Đức M - sinh năm 2014, đến quán Karaoke Huy Anh. T vào phòng hát P05 ở tầng 3 uống bia và hát cùng mọi người. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, anh H, T và số người trong phòng tắt nhạc không hát nữa mà bàn về chuyện đóng quỹ lớp. Do có ý kiến khác nhau nên anh H và T cãi, chửi nhau. Lúc này anh T và anh H đang đứng đối diện nhau qua chiếc bàn đầu tiên từ cửa phòng hát đi vào. T dùng tay phải cầm chiếc cốc bằng thủy tinh màu trắng, loại cốc có quai ở trên mặt bàn ném trúng vào phần đỉnh đầu bên trái của anh H làm anh H bị thương, chiếc cốc rơi xuống sàn bị vỡ. Mọi người trong phòng can ngăn, đẩy anh H đi xuống tầng một của quán, còn T và cháu M lên xe ô tô đi về trước. Sau đó, anh H đi xe taxi do anh Dương Anh T - sinh năm 1982, trú tại khu Núi V, thị trấn P, huyện P điều khiển, dến Trạm y tế thị trấn P sơ cứu, khâu vết thương rồi cùng với Nguyễn Văn L - sinh năm 1987, trú tại khu 1, thị trấn P, huyện P; Đào Minh H - sinh năn 1994 và Trần Anh V - sinh năm 1994, đều trú tại khu 7, thị trấn P, huyện P, đi đến nhà và Lê Thị N - sinh năm 1963 (là mẹ đẻ T), ở khu 2, xã PL , huyện P để tìm Th nhưng không gặp nên anh H và số người này ra về. Sau đó, anh H đến Công an huyện Phù Ninh trình báo.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phù Ninh đã tiến hành khám
nghiệm hiện trường, thu giữ 10 (mười) mảnh vỡ thủy tinh màu trắng do anh Bùi Quang N - sinh năm 1994, trú tại khu 1 xã K, thành phố V, là nhân viên quán Karaoke Huy Anh thu dọn được trong phòng P05 ở tầng 3 của quán giao nộp.
Ngày 04/9/2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phù Ninh đã
trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh Phú Thọ tiến hành giám định xác định tỷ lệ thương tích, cơ chế hình thành vết thương đối với thương tích của anh Nguyễn Quang H. Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 186/TgT/2017 ngày 11/9/2017 của Trung tâm pháp y tỉnh Phú Thọ kết luận: “Tỷ lệ tổn hại phần trăm sức khỏe của anh Nguyễn Quang H là 15% (mười lăm phần trăm). Cơ chế hình thành vết thương là do vật tày cứng có cạnh giới hạn gây nên.”
Ngày 27/9/2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phù Ninh đã ra
quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định khởi tố bị can và lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Lê Đức T về tội Cố ý gây thương tích, theo khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999.
Tại Cơ quan điều tra, Lê Đức Th đã khai nhận hành vi dùng cốc thủy tinh
ném gây thương tích cho anh Nguyễn Quang H như đã nêu trên. Lời khai của Lê Đức Th tại các bút lục từ 136 đến 160, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và vật chứng thu giữ. Việc Lê Đức T khai bị anh Nguyễn Quang H dùng cốc thủy tinh ném T trước, Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng không có căn cứ để kết luận.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, Lê Đức T đã bồi thường cho
anh Nguyễn Quang H số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng). Anh Nguyễn Quang H không có yêu cầu, đề nghị gì khác và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Lê Đức T.
Tại Cáo trạng số 06/KSĐT –TA ngày 09/01/2018 Viện kiểm sát nhân dân
huyện Phù Ninnh đã truy tố Lê Đức T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 điều 134 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh đề
nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 điều 134; điểm b, s khoản 1; khoản 2 điều 51; khoản 1 điều 54; điều 36 BLHS năm 2015, xử phạt: Lê Đức T từ 15 tháng đến 18 tháng cải tạo không giam giữ.
Miễn khấu trừ một phần thu nhập cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho người
bị hại số tiền 50.000.000 đồng và người bị hại không có yêu cầu gì thêm.
Về vật chứng: Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa hôm nay lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai
của người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được cơ quan điều tra thu thập lưu trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, đã có đủ căn cứ để kết luận:
Khoảng 15 giờ ngày 02/9/2017, tại quán Karaoke Huy Anh thuộc khu Núi
T, thị trấn P, huyện P, do mâu thuẫn cá nhân, Lê Đức T đã có hành vi dùng chiếc cốc bằng thủy tinh màu trắng, loại cốc có quai, ném vào phần đỉnh đầu bên trái của anh Nguyễn Quang H, gây tổn hại phần trăm sức khỏe của anh Nguyễn Quang H là 15% (mười lăm phần trăm).
Trong quá trình điều tra, bị cáo không nhất trí với Kết luận giám định đối
với thương tích của anh Nguyễn Quang H như tại Bản kết luận giám định pháp y của Trung tâm pháp y tỉnh Phú Thọ và đề nghị được giám định lại đối với thương tích của anh H. Tuy nhiên tại phiên tôà hôm nay bị cáo không có đề nghị giám định lại đối với thương tích của anh Huấn.
Hành vi nêu trên của Lê Đức T đã bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù
Ninh truy tố về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 điều 134 BLHS năm 2015 là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Mặc dù hành vi phạm tội của bị cáo được thực hiện trước ngày BLHS
năm 2015 có hiệu lực thi hành tuy nhiên tại khoản 2 điều 104BLHS năm 1999 quy định mức hình phạt nặng hơn so với quy định tại điểm đ khoản 2 điều 134 BLHS năm 2015. Do đó, căn cứ điểm b khoản 1 điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 của Quốc hội về việc thi hành BLHS số 100/2015/QH13 và để đảm bảo nguyên tắc có lợi cho bị cáo nên VKS nhân dân huyện Phù Ninh truy tố bị cáo theo quy định tại điểm đ khoản 2 điều 134 BLHS năm 2015 là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì đã trực tiếp xâm
phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương. Hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nghiêm trọng. Vì vậy, cần phải bị xử lý nghiêm để có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, trước khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cần xem xét
đến nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không
phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho Người bị hại được 50.000.000 đồng và Người bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm. Do đó, HĐXX xem xét và cho bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 điều 51 BLHS năm 2015. Ngoài ra, trong quá trình điều tra Người bị hại đã có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Vì vậy, HĐXX cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 điều 51 BLHS năm 2015.
Do bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1điều 51 và tình
tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 điều 51 của BLHS năm 2015 nên căn cứ khoản 1 điều 54 BLHS năm 2015 HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng cụ thể cho bị cáo được hưởng mức hình phạt quy định tại khoản 1 điều 134 BLHS năm 2015. Vì vậy, căn cứ vào nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các quy định của pháp luật nêu trên và xét thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội cũng đủ để bị cáo nhận thức được những sai lầm của bản thân và giáo dục bị cáo cải tạo thành công dân tốt.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có tài sản gì riêng, không có
việc làm và thu nhập thường xuyên, ổn định nên miễn khấu trừ một phần thu nhập đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra bị cáo đã tự nguyện
bồi thường cho anh Nguyễn Quang H - Là người bị hại số tiền 50.000.000 đồng và anh Huấn không có yêu cầu bồi thường gì thêm. Xét thấy đây là sự thỏa thuận giữa các bên nên cần xác nhận.
Về xử lý vật chứng: Đối với 10 mảnh thủy tinh màu trắng là vật chứng
của vụ án và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Trong quá trình điều tra vụ án, Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực
hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Tất cả các Quyết định tố tụng trong vụ án đều được lập, giao nhận cho những người tham gia tố tụng theo đúng trình tự mà pháp luật quy định.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, Người bị hại được quyền kháng cáo theo quy định của pháp
luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Lê Đức T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng: Điểm đ khoản 2 điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51,
khoản 1 điều 54; điều 36 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt: Lê Đức Thiện: 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ.
Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày UBND TT LT được giao
giám sát, giáo dục bị cáo nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo cho UBND TT LT, huyện LT, tỉnh P giám sát, giáo dục bị cáo
trong thời gian bị cáo chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
Miễn khấu trừ một phần thu nhập cho bị cáo.
Áp dụng: Khoản 1 điều 47, điều 48 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm
2017; khoản 2 điều 106; khoản 2 điều 136, khoản 1 điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
- Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận bị cáo đã bồi thường cho anh Nguyễn
Quang H số tiền 50.000.000 đồng và anh Huấn không có yêu cầu bồi thường gì thêm.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 10 mảnh thủy tinh màu trắng gồm:
+ 01 mảnh thủy tinh màu trắng, kích thước chỗ dài nhất 7,6cm, chỗ rộng
nhất 6,5cm, dày 1,5cm;
+ 01 mảnh thủy tinh màu trắng, kích thước chỗ dài nhất 6,3cm, chỗ rộng
nhất 5,6cm, dày 1,5cm;
+ 01 mảnh thủy tinh màu trắng, kích thước chỗ dài nhất 6,5cm, chỗ rộng
nhất 04cm, dày 1,5cm;
+ 01 mảnh thủy tinh màu trắng, kích thước chỗ dài nhất 4,2cm, chỗ rộng
nhất 3,5cm, dày 1,5cm;
+ 01 mảnh thủy tinh màu trắng, kích thước chỗ dài nhất 07cm, chỗ rộng
nhất 03cm, dày 0,4cm;
+ 01 mảnh thủy tinh màu trắng, kích thước chỗ dài nhất 5,4cm, chỗ rộng
nhất 4,2cm, dày 0,4cm;
+ 01 mảnh thủy tinh màu trắng, kích thước chỗ dài nhất 6,6cm, chỗ rộng
nhất 3,5cm, dày 0,4cm;
+ 01 mảnh thủy tinh màu trắng, kích thước chỗ dài nhất 3,5cm, chỗ rộng
nhất 2,9cm, dày 0,4cm;
+ 01 mảnh thủy tinh màu trắng, kích thước chỗ dài nhất 4,3cm, chỗ rộng
nhất 2,9cm, dày 0,4cm;
+ 01 mảnh thủy tinh màu trắng, kích thước chỗ dài nhất 3,9cm, chỗ rộng
nhất 2,3cm, dày 0,4cm;
(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 11/01/2018).
- Về án phí: Bị cáo Lê Đức T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn
đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm bị cáo có mặt được quyền
kháng cáo để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày
nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
N¬i nhËn:
| - TAND tØnh; - VKS ND tØnh, huyÖn; - CA huyÖn; - THA; së T Ph¸p; - UBND TT LT; - BÞ c¸o; - L u: HS- VP (10). | TM. Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm ThÈm ph¸n- Chñ täa phiªn tßa Tạ Thị Hồng Ngân |