- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lưu Văn H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? ... Tuyên bố: Bị cáo Lưu Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2018/HS-ST Ngày 27 tháng 3 năm 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Hồng Nam;
Các Hội thẩm nhân dân: 1.Ông Nguyễn Tuấn Trung
2. Bà Dương Thị Oanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh T;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Giang – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 3 năm 2018, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Phú Lương xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 10/2018/TLST-HS, ngày 06 tháng 02 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2018/QĐXXST – HS ngày 06 tháng 3 năm 2018, đối với bị cáo: Lưu Văn H, sinh năm 1962.
Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn A, xã P1, huyện Đ, tỉnh T; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 7/10; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu Văn K (Đã chết) và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1935; có vợ là Phan Thị T1, sinh năm 1966, có 01 con sinh năm 1986; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Năm 2005, bị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm 05- 06 tỉnh Thái Nguyên theo Quyết định số 469/QĐ-UB ngày 15/7/2005 của UBND huyện Đ, tỉnh T.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 20/11/2017, đến ngày 28/11/2017 chuyển tạm giam tại Công an huyện Phú Lương, có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng: Anh Ngô Văn Đ1 – Sinh năm 1973. Địa chỉ: Xóm T5, xã Y, huyện P, tỉnh T. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 13 giờ 30 phút ngày 20/11/2017, tại khu vực xóm Thượng, xã Yên Đổ, huyện Phú Lương, tổ công tác của Công an huyện Phú Lương phối hợp với Công an xã Yên Đổ bắt quả tang Lưu Văn H đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Vật chứng thu giữ gồm: Thu trong tay trái của H 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long, bên trong có 03 điếu thuốc là và 01 gói chất bột màu trắng, bên ngoài được gói bằng giấy bạc màu vàng, nghi là ma túy loại Heroin (BL20-23). Tại Kết luận giám định số 43/KL-PC54 ngày 27/11/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh T kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ của Lưu Văn H là chất ma túy, loại heroin, có trọng lượng (khối lượng) là 0,135g.
H khai bản thân nghiện ma túy nên khoảng 13 giờ ngày 20/11/2017, H một mình đi xe buýt đến khu vực xã Yên Đổ, huyện Phú Lương mục đích tìm mua ma túy về để sử dụng cho bản thân. Khi đi đến khu vực xóm Thượng, xã Yên Đổ, H xuống xe buýt, gặp một người nam giới thường gọi là “bé Đ3” khoảng 25 tuổi, H hỏi mua của người này 01 gói ma túy với giá 100.000 đồng. Người này nhận tiền rồi đưa cho H 01 bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long và nói cho H biết ma túy đã để ở trong bao thuốc lá. H cầm ma túy trong tay trái, đi ra bắt xe để về nhà thì bị lực lượng chức năng bắt quả tang như nêu trên.
Tại bản cáo trạng số 12/CT-VKSPL ngày 06/02/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện P đã truy tố bị cáo Lưu Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Lưu Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Đề nghị áp dụng: Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật hình sự 2015.
Xử phạt: Lưu Văn H 15 đến 18 tháng tù giam.
Đề nghị xử lý vật chứng và buộc bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của bị cáo: không có ý kiến gì tranh luận
Bị cáo nói lời sau cùng: Xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Hành vi, quyết định tố tụng của của Cơ quan điều tra Công an huyện Phú Lương, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xác nhận bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện P truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay là tự nguyện, khách quan, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản niêm phong vật chứng, biên bản mở niêm phong, biên bản xác định trọng lượng, kết luận giám định, lời khai của người làm chứng... Do vậy, đã đủ cơ sở để xác định: Hồi 13 giờ 30 phút ngày 20/11/2017 tai khu vực xóm Thượng, xã Yên Đổ, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, Lưu Văn H đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,135gam heroin, mục đích sử dụng cho bản thân thì bị bắt quả tang.
Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Như vậy, Cáo trạng số 12/CT-VKSPL ngày 06 tháng 02 năm 2018 của VKSND huyện P truy tố đối với bị cáo Lưu Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có căn cứ, đúng pháp luật. Nội dung điều luật quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
…
c. Heroin…có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” ngày 20/11/2017, trước ngày BLHS 2015 có hiệu lực thi hành. Tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1 Điều 194 BLHS 1999, tương ứng với Tội tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1 Điều 249 BLHS 2015, tuy nhiên, Điều 249 BLHS 2015 quy định khung hình phạt thấp hơn khung hình phạt quy định tại điều 194 BLHS 1999. Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 7 BLHS 2015 và Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 về việc thi hành Bộ luật hình sự năm 2015, việc áp dụng Điều 249 BLHS 2015 để truy tố, xét xử đối với bị cáo Lưu Văn H là phù hợp, đảm bảo nguyên tắc có lợi cho bị cáo.
Xét tính chất của vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, làm mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Do đó cần phải xử lý nghiêm minh bị cáo bằng pháp luật hình sự nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm.
Xét các yếu tố về nhân thân của bị cáo thấy rằng: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, quá trình sinh sống tại địa phương chưa có tiền án, tiền sự. Bản thân bị cáo có đầy đủ khả năng nhận thức pháp luật và khả năng điều khiển hành vi của mình nhưng vì nghiện ma túy nên bị cáo đã bất chấp các quy định của pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, do vậy bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS là người phạm tội thành khẩn khai báo. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các yếu tố về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy cần phải có mức án nghiêm minh đối với bị cáo và cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo được tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời răn đe giáo dục phòng ngừa chung.
Vật chứng của vụ án: Cần tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong ký hiệu T2 bên trong có 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long, 03 điếu thuốc là và 01 vỏ bì niêm phong ký hiệu H1; 01 bì niêm phong ký hiệu A1 bên trong có 0.108 gam mẫu A1 còn lại sau giám định.
Về án phí: Cần buộc bị cáo chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Về nguồn gốc số ma túy, H khai mua của người đàn ông tên thường gọi là Bé Đ3. Cơ quan điều tra Công an huyện Phú Lương đã tiến hành đối chất giữa bị cáo H và người đàn ông tên Đ3, Đ3 không thừa nhận việc đã bán ma túy cho H nên cơ quan điều tra chưa có đủ cơ sở để xử lý.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà về hình phạt cũng như các vấn đề khác là phù hợp nên cần được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Nghị quyết 41/2017/QH 14 về việc thi hành BLHS 2015; khoản 3 Điều 7, khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 47 BLHS 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106, Điều 136, Điều 329 BLTTHS 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 về án phí, lệ phí Toà án.
... Tuyên bố: Bị cáo Lưu Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Về hình phạt: Xử phạt Lưu Văn H 15 (Mười lăm) tháng tù giam
Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt (20/11/2017). Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo việc thi hành án.
2. Về vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong ký hiệu T2 bên trong có 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long, 03 điếu thuốc là và 01 vỏ bì niêm phong ký hiệu H1; 01 bì niêm phong ký hiệu A1 bên trong có 0.108 gam mẫu A1 còn lại sau giám định. (Tình trạng, đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an và Chi cục Thi hành án huyện Phú Lương ngày 08/02/2018 ).
3. Án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND Phú Lương; - THADS Phú Lương; - Công an Phú Lương; - TAND tỉnh Thái Nguyên; - Sở Tư pháp Thái Nguyên; - THAHS- Công an tỉnh TN - Bị cáo; -Lưu Hs, VP. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Ngô Hồng Nam |