vanban.org

Bản án 13/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 27/02/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 18/01/2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH NINH BÌNH
---------=---------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2018/HS-ST
Ngày: 27-02-2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N - NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Huệ.

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Tạ Khắc nghĩa:

Ông Nguyễn Văn Phiếu:

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng - Thư ký Toà án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Duy - Kiểm sát viên.

Ngày 27/02/2018 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 13/2018/HSST ngày 09/02/2018 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2018/QĐXXST-HS ngày 12/02/2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn T, sinh năm 1987; Nơi ở và ĐKNKTT: Thôn P, xã V, huyện N, tỉnh Ninh Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 05/12; Giới tính: Nam; Con ông Nguyễn Văn L và bà Vũ Thị H; Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ kể từ ngày 18/01/2018 chuyển tạm giam từ ngày 21/01/2018. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng:

- Ông Phạm Văn T, sinh năm 1969. Trú tại: Thôn L, xã S, huyện N, tỉnh Ninh Bình. (Vắng mặt).

- Anh Phạm Quốc T, sinh năm 1997. Trú tại: Thôn T, xã V, huyện N, tỉnh Ninh Bình. (Vắng mặt).

- 1 -

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn T là người nghiện ma túy; khoảng 09 giờ ngày 18/01/2018, Nguyễn Văn T đi bộ từ nhà đến địa phận xã S, huyện N để tìm mua Heroine về sử dụng. Khi đến khu vực thôn T, xã S, Nguyễn Văn T gặp và hỏi một người nam giới đang đi trên đường (Truyền không biết tên, tuổi, địa chỉ) “Anh có ma túy không bán cho em hai trăm nghìn đồng” - Ý hỏi mua 200.000 đồng Heroine, người nam giới đồng ý nói “Có, đưa tiền đây”. Nguyễn Văn T lấy ra 200.000 đồng đưa cho người nam giới, người nam giới cầm tiền rồi đưa cho T 01 gói Heroine được gói ngoài bằng giấy bạc màu vàng, Nguyễn Văn T cầm gói Heroine trên tay đi tìm nơi vắng người để sử dụng ma túy (Bút lục 28, 29, 70,72

- 85, 89, 90, 92). Khoảng 10 giờ 45 phút cùng ngày, khi T đang đi bộ tại đoạn đường ở thôn T, xã S thì gặp Tổ công tác Công an huyện N phối hợp với Công an xã S đang tiến hành nhiệm vụ tuần tra. Do sợ bị phát hiện cất giấu Heroine trên người nên Nguyễn Văn T định ném gói Heroine xuống mặt đường thì bị Tổ công tác phát hiện bắt quả tang. Thu giữ trên tay phải của T 01 gói nhỏ được gói ngoài bằng giấy bạc màu vàng, kiểm tra bên trong có chứa chất bột dạng cục mầu trắng, T khai nhận đó là gói heroine của T vừa mua về nhằm mục đích sử dụng. Ngoài ra Tổ công tác còn thu giữ của Nguyễn Văn T 01 điện thoại Nokia 1280 vỏ màu đen và số tiền 60.000 đồng. (Bút lục 28-31, 43 - 45, 47- 49, 50 - 52, 54 - 56, 72- 82, 85, 88 - 92)

Cân xác định trọng lượng chất bột dạng cục màu trắng chứa trong 01 gói nhỏ được gói ngoài bằng giấy bạc màu vàng thu giữ của Nguyễn Văn T có trọng lượng 0,15 gam ký hiệu M để gửi trưng cầu giám định về khối lượng và loại chất ma túy. (Bút lục 34, 35)

Tại bản kết luận giám định số 23/KLGĐ-PC54-MT ngày 20/01/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: “Mẫu chất bột dạng cục mầu trắng ký hiệu M gửi giám định có khối lượng 0,1590 (không phẩy một nghìn năm trăm chín mươi) gam, là ma túy, loại Heroine.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như trên; Kiểm sát viên, bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy

- 2 -

tố của Viện kiểm sát; bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình nêu trên.

Tại bản cáo trạng số 13/CT-VKS ngày 08/2/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện N truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma trúy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 12 đến 15 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 18/01/2018.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị:

- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động NOKIA 1280 vỏ màu đen và số tiền 60.000 đ (Sáu mươi nghìn đồng).

- Tịch thu tiêu hủy 0,1040 (không phẩy một nghìn không trăm bốn mươi) gam Heroine còn lại Cơ quan điều tra thu giữ của Nguyễn Văn T cùng toàn bộ vỏ bao gói trong gói niêm phong ban đầu, tất cả được niêm phong trong một phong bì ghi số 23/2018/GĐMT và 01 phong bì niêm phong các vỏ gói ban đầu.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N.

Lời nói sau cùng của bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã truy tố cụ thể như sau: Bị cáo là người nghiện ma túy nên để có ma túy sử dụng cho bản thân, khoảng 09 giờ ngày 18/01/2018 tại khu vực thôn T, xã S, Nguyễn Văn T mua của một người nam giới không quen biết đang đi trên đường 01 gói Heroine có trọng lượng 0,1590 gam được gói ngoài bằng giấy bạc màu vàng giá 200.000đ nhưng chưa kịp sử dụng thì bị Tổ công tác Công an huyện N

- 3 -

phối hợp với Công an xã S đang tiến hành nhiệm vụ tuần tra phát hiện và bắt quả tang.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, người làm chứng, biên bản thu giữ vật chứng, bản kết luận giám định số 23/KLGĐ-PC54-MT ngày 20/01/2018 và các chứng cứ, tài liệu có liên quan khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Đã đủ cơ sở pháp lý khẳng định bị cáo Nguyễn Văn T tàng trữ 0,1590 gam heroine nhằm mục sử dụng. Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự thì: “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:…c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”. Như vậy, hành vi nêu trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Viện kiểm sát nhân dân huyện N vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Tuy nhiên, trước khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cân nhắc đến tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, nhân thân bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, xét thấy:

Hành vi tàng trữ 0,1590 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng của bị cáo Nguyễn Văn T là cố ý, nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội. Trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về việc quản lý các chất ma túy. Xét bản thân bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi mua Heroine của mình bị Nhà nước cấm. Đồng thời bị cáo nhận thức được nghiện ma túy là tệ nạn xã hội nguy hiểm mà cộng đồng đang ra sức lên án và loại trừ bởi ma túy ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người sử dụng, ảnh hưởng đến kinh tế, sự phát triển nòi giống, phá hoại hạnh phúc gia đình và là con đường lây nhiễm HIV phổ biến nhất hiện nay. Đồng thời gây mất trật tự an toàn xã hội, làm gia tăng các tệ nạn xã hội như: Lừa đảo, trộm cắp…Nhận thức được hành vi mua ma túy bị pháp luật cấm và tác hại to lớn của ma túy như vậy nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức án thật nghiêm khắc, áp dụng loại hình phạt tù có thời hạn cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo. Như vậy, mới có tác dụng nâng cao hiệu quả công tác giáo dục, răn đe phòng ngừa tội phạm chung cũng như giúp bị cáo có thời gian cải tạo rèn luyện mình trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự; Phạm tội lần

- 4 -

đầu; Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi mình đã thực hiện. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Trong vụ án này, kết quả điều tra không xác định được tên, tuổi, địa chỉ của người đã bán Heroine cho bị cáo nên không có căn cứ để xử lý.

. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện ma túy tàng trữ nhằm sử dụng không nhằm mục đích kiếm lời. Mặt khác, bị cáo ở chung với mẹ đẻ không có tài sản gì. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 vỏ màu đen và số tiền 60.000đ là tài sản hợp pháp của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo là phù hợp với điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Đối với 0,1040 (Không phẩy một nghìn không trăm bốn mươi) gam Heroine còn lại Cơ quan điều tra thu giữ của Nguyễn Văn T cùng toàn bộ vỏ bao gói trong gói niêm phong ban đầu, tất cả được niêm phong trong một phong bì ghi số 23/2018/GĐMT và 01 phong bì niêm phong các vỏ gói ban đầu vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu để tiêu hủy.

. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 18/01/2018.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, vỏ mầu đen, IMEI 356713054203953 và số tiền 60.000đ (Sáu mươi nghìn đồng).

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) phong bì thư được niêm phong theo đúng quy định của pháp luật, là mẫu vật hoàn trả số 23/2018/GĐMT. M = 0,1040 gam chất bột mầu trắng là ma túy loại Heroine; 01 (Một) phong bì thư được niêm

- 5 -

phong theo đúng quy định của pháp luật, bên trong là vỏ gói và phong bì niêm phong cũ.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

4. Án xử công khai sơ thẩm bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ