- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự Xử phạt; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOA LƯ TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2018/HS-ST Ngày 17-5-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Kim Oanh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Quang Long
Ông Bùi Thanh Xuyên
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Đào - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 05 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 16/2018/TLST-HS ngày 20/04/2018 đối với bị cáo:
Lê Văn H, sinh năm: 1964, tại huyện H, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: thôn Đ, xã T, huyện H, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 7/10; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn G (đã chết) và bà Trịnh Thị H; có vợ là Lê Thị H và 02 con (con lớn sinh năm 1992, con nhỏ sinh năm 1994); tiền án, tiền sự: không; nhân thân: không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/01/2018 đến ngày 06/01/2018 thay đổi bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.
- Người làm chứng: Anh Dương Chí K, sinh năm 1972, trú tại: thôn Đ, xã T, huyện H, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng hơn 12 giờ, ngày 05/01/2018, Lê Văn H đang ở nhà thì có anh Dương Văn T, sinh năm 1976, trú tại thôn Tr, xã T, huyện H, tỉnh Ninh Bình là bạn của H đi xe mô tô nhãn hiệu Ferroli vỏ mác Dream, biển kiểm soát (BKS) 35M1-1409 đến chơi. H đã hỏi mượn xe của anh T và đi đến nhà Phạm Văn Y, sinh năm 1961, trú tại thôn V, xã T, huyện H, tỉnh Ninh Bình để tìm mua ma túy. Đến nơi, H hỏi Y có ma túy bán không. Y nói có nên H đưa cho Y 100.000 đồng và nhận của Y một gói nhỏ bên ngoài gói bằng mảnh giấy màu trắng. H cầm gói nhỏ vừa mua ở tay trái rồi đi về nhà. Khoảng 12 giờ 45 phút, khi H về đến đường trục thôn Y, xã T thì gặp tổ công tác Công an huyện H phối hợp với công an xã T đang làm nhiệm vụ phát hiện có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu kiểm tra. H đã tự giác giao nộp cho tổ công tác 01 gói nhỏ vừa mua và khai nhận đó là Heroine. Tổ công tác kiểm tra bên trong gói H giao nộp có chứa chất bột dạng cục màu trắng nên đã tiến hành niêm phong, thu giữ vật chứng cùng chiếc xe mô tô và lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang. Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã trả chiếc xe mô tô BKS 35M1-1409 cho anh Dương Văn T là chủ sở hữu.
Toàn bộ số chất bột dạng cục thu giữ của H được gửi đi giám định. Bản Kết luận giám định số 11/KLGĐ-PC54-MT ngày 06/01/2018 của Phòng Kỹ thuật Hình sự - Công an tỉnh Ninh Bình kết luận chất bột gửi giám định có khối lượng 0,1320 gam là ma túy, loại Heroine.
Số vật chứng còn lại gồm một phong bì niêm phong bên trong có mẫu vật ký hiệu M1 = 0,0755 gam Heroine và toàn bộ vỏ bao gói trong gói niêm phong (mẫu vật hoàn trả của Phòng PC54 Công an tỉnh Ninh Bình) và một phong bì niêm phong bên trong có chứa vỏ giấy gói ban đầu, vỏ phong bì niêm phong ban đầu.
Bản cáo trạng số 16/CT-VKSHL ngày 18 tháng 4 năm 2018, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hoa Lư truy tố bị cáo về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự (viết tắt là BLHS). Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo khai nhận thực hiện hành vi cầm giữ trái phép 0,1320 gam Heroine trong tay trái với mục đích để sử dụng cho bản thân. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ được, kết luận giám định. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo không có tiền án, tiền sự. Khi lực lượng công an yêu cầu kiểm tra, bị cáo đã tự giác giao nộp gói ma túy. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn, hối cải. Bên cạnh đó, bị cáo có bố (ông Lê Văn G) là người có công với cách mạng, có thời gian tham gia dân công hỏa tuyến, được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhì. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điều 54 của BLHS xử phạt bị cáo từ 09 đến 12 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án được trừ 02 ngày tạm giữ. Áp dụng Điều 47 của BLHS, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự (viết tắt là BLTTHS) tịch thu tiêu hủy 02 phong bì niêm phong các vật chứng còn lại.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi nêu trên và không có ý kiến gì khác, không tranh luận với luận tội của đại diện Viện Kiểm sát, đề nghị cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hoa Lư, điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hoa Lư, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị cáo Lê Văn H là người đã thành niên, nhận thức rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thể hiện bị cáo bị bắt quả tang khi có hành vi cất giữ trong người 0,1320 gam Heroine vào hồi 12 giờ 45 phút, ngày 05/01/2018 tại trục đường thôn Y, xã T, huyện H, tỉnh Ninh Bình với mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS. Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hoa Lư truy tố bị cáo là đúng pháp luật.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trước khi có hành vi phạm tội, bị cáo chưa bị các cơ quan có thẩm quyền xử phạt. Lần phạm tội này của bị cáo là phạm tội lần đầu. Khi bị lực lượng công an yêu cầu kiểm tra, bị cáo đã tự giác giao nộp gói ma túy. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bố của bị cáo là người có công với cách mạng. Do đó, cần cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS.
Heroine là chất ma túy có thứ tự số 20 thuộc Danh mục I ban hành kèm theo Nghị định số 82/2013/NĐ-CP ngày 19 tháng 7 năm 2013 của Chính phủ. Đây là một trong các chất ma túy tuyệt đối cấm sử dụng trong y học và đời sống xã hội; việc sử dụng các chất này trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, điều tra tội phạm phải tuân theo quy định đặc biệt của cơ quan có thẩm quyền. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm vào chế độ quản lý của nhà nước đối với các chất ma túy, gây ảnh hưởng không tốt đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Việc sử dụng trái phép chất ma túy còn ảnh hưởng trực tiếp đến kinh tế gia đình và sức khỏe của bản thân bị cáo. Ngoài ra, tệ nạn ma túy còn là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm khác. Để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân biết tuân thủ pháp luật, sống có ích cho gia đình và xã hội cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian tương xứng. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của BLHS nên cần cho bị cáo được hưởng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt để tạo điều kiện cho bị cáo sớm hòa nhập cuộc sống cộng đồng, trở thành công dân tốt, biết tuân thủ pháp luật. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/01/2018 đến ngày 06/01/2018 thay đổi bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú nên cần trừ thời gian tạm giữ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo.
Về vật chứng và tài sản tạm giữ: Chiếc xe mô tô BKS 35M1- 1409 cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là anh Dương Văn T theo đúng quy định của pháp luật. Gói ma túy thu giữ của bị cáo sau khi tiến hành niêm phong, cân trọng lượng, gửi đi giám định được hoàn lại đối tượng giám định là một phong bì niêm phong bên trong có mẫu vật ký hiệu M1 = 0,0755 gam Heroine và toàn bộ vỏ bao gói trong gói niêm phong (mẫu vật hoàn trả của Phòng PC54 Công an tỉnh Ninh Bình) và một phong bì niêm phong bên trong có chứa vỏ giấy gói ban đầu, vỏ phong bì niêm phong ban đầu là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Về các vấn đề khác: Quá trình điều tra, Lê Văn H khai nhận mua ma túy của Phạm Văn Y vào ngày 03/01/2018 và ngày 05/01/2018 để sử dụng cho bản thân. Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp đối với nơi ở của Phạm Văn Y nhưng không thu giữ được tài sản, đồ vật gì và không lấy được lời khai của Y do Y không có mặt tại địa phương. Vì vậy, không đủ cơ sở để xem xét xử lý hành vi của bị cáo ngày 03/01/2018. Cơ quan điều tra đã tách phần tài liệu liên quan đến Phạm Văn Y để tiếp tục điều tra là đúng quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật Hình sự
Xử phạt bị cáo Lê Văn H 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án và được trừ thời gian tạm giữ là 02 (hai) ngày (từ ngày 05/01/2018 đến ngày 06/01/2018).
2. Về vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, tịch thu tiêu hủy một phong bì niêm phong bên trong có mẫu vật ký hiệu M1 = 0,0755 gam Heroine và toàn bộ vỏ bao gói trong gói niêm phong (mẫu vật hoàn trả của Phòng PC54 Công an tỉnh Ninh Bình) và một phong bì niêm phong bên trong có chứa vỏ giấy gói ban đầu, vỏ phong bì niêm phong ban đầu hiện đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 19/4/2018 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hoa Lư và Chi cục thi hành án dân sự huyện Hoa Lư.
3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của BLTTHS, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Bình; - VKSND huyện Hoa Lư; - Công an huyện Hoa Lư; - THADS huyện Hoa Lư; - Sở Tư pháp tỉnh Ninh Bình; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Vũ Thị Kim Oanh |