- Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2018/HS-ST Ngày 17-4-2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Minh
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tiến Bảo và ông Nguyễn Đình Tân
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuyến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Quý – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2018/HSST, ngày 20/3/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2018/QĐXXST-HS, ngày 05 tháng 4 năm 2018 đối với bị cáo:
Phan Văn N, sinh năm 1997, tại Quảng Trị; Nơi cư trú: Thôn 7, xã Đắk L, huyện Đắk M, tỉnh Đắk Nông; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 05/12; con ông Phan Văn Đ, sinh năm 1974 và bà Bùi Thị H, sinh năm 1974. Bị bắt tạm giữ ngày 17/01/2018, sau đó chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Đắk Mil. (Bị cáo có mặt)
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Hoàng Ngọc T, sinh năm 1999 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Số nhà 130, đường Trần Hưng Đạo, tổ dân phố 12, thị trấn Đắk M, huyện Đắk M, tỉnh Đắk Nông.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 15/01/2018, Phan Văn N đến ngã ba Duy Hòa, phường Khánh Xuân, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk gặp đối tượng tên Tiến (chưa xác định nhân thân, lai lịch) cho Phan Văn N một gói ma túy tổng hợp. Sau đó Phan Văn N bỏ gói ma túy tổng hợp vào một hộp diêm rồi dùng băng keo màu đen quấn lại sau đó cất giấu trong người rồi đi về nhà tại huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông.
Đến khoảng 01 giờ 30 phút, ngày 17/01/2018, Phan Văn N đến phòng trọ của Hoàng Ngọc T tại số nhà 130, tổ dân phố 12, thị trấn Đắk Mil, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông để chơi và rủ Hoàng Ngọc T sử dụng ma túy chung thì được Hoàng Ngọc T đồng ý. Khi Phan Văn N dùng tay phải lấy từ trong túi quần phía trước bên trái ra 01 hộp diêm được quấn bằng băng keo màu đen bên trong có 01 gói ma túy tổng hợp thì bị cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông bắt quả tang.
Tại bản kết luận giám định số 04/PC54 ngày 22/01/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông kết luận: Tinh thể màu trắng gửi giám định là chất ma túy, là Methamphetamine. Trọng lượng tinh thể màu trắng là 0,2251 gam (tinh thể màu trắng hoàn lại sau giám định có trọng lượng là 0,1515 gam).
Tại Bản cáo trạng số 15/CTr – VKS, ngày 19 tháng 3 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Mil đã truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Đăk Mil để xét xử bị cáo Phan Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Mil đã phân tích, đánh giá tính chất của vụ án, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo cũng như các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Phan Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng.
- Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự. Tuyên phạt bị cáo Phan Văn N mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
- Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự; Căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu và tiêu hủy 0,2251 gam (tinh thể màu trắng hoàn lại sau giám định có trọng lượng là 0,1515 gam); 01 chai nước bằng nhựa màu trắng, nắp chai màu đỏ, trên nắp chai đục hai lỗ, trong đó 01 lỗ gắn với một ống hút nước màu xanh dài 20 cm, 01 lỗ gắn với một ống thủy tinh được uốn cong một đầu do không còn giá trị sử dụng.
- Đối với đối tượng nam giới tên Tiến đã cho Phan Văn N hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông đang tiếp tục điều tra xác minh làm rõ, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.
Tại phiên toà, bị cáo không bào chữa, không tranh luận gì mà chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng:
Cơ quan điều tra Công an huyện Đắk Mil, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi khách quan và hậu quả do hành vi khách quan của bị cáo gây ra, bị cáo khai nhận như sau:
Tại phiên tòa, bị cáo Phan Văn N đã khai nhận hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện đúng như diễn biến sự việc mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông đã truy tố, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người liên quan, những người tham gia tố tụng, biên bản phạm tội quả tang lập ngày 17/01/2018, biên bản niêm phong vật chứng lập ngày 17/01/2018, biên bản kết luận giám định số 04/PC54 ngày 22/01/2018 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông và các chứng cứ, tài liệu thu thập có lưu trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai.
Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận: Vào lúc 01 giờ 40 phút, ngày 17/01/2018, tại tổ dân phố 12, thị trấn Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông, Công an huyện Đắk Mil đã bắt quả tang và thu giữ trên tay phải của Phan Văn N 0.2251 gam Methamphetamine với mục đích để sử dụng. Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử đủ căn cứ để kết luận hành vi của bị cáo Phan Văn N đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: …
c. Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; …”
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về quản lý chất ma túy. Bị cáo là công dân có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo biết được việc tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật, làm gia tăng các tệ nạn xã hội, ảnh hưởng đến đời sống cộng đồng, làm mất trật tự an ninh tại địa phương. Nhưng với ý thức coi thường pháp luật, để thỏa mãn nhu cầu của bản thân bị cáo đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0.2251 gam Methamphetamine nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình. Do đó, để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, Hội đồng xét xử xét thấy cần có một mức án thật nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội và hậu quả tội phạm để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt cho xã hội biết tôn trọng pháp luật.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, ông ngoại ruột của bị cáo là Liệt sỹ, người có công với cách mạng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Do đó cần áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật. Bị cáo có nhân thân tốt, trước đây bị cáo chưa bị xử lý hành chính hay hình sự cho đến ngày thực hiện hành vi phạm tội, đây cũng là tình tiết để Hội đồng xét xử xem xét khi lượng hình đối với bị cáo.
Tuy nhiên, Hội đồng xét xử thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định thì mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, có tác dụng răn đe phòng ngừa chung trong xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Theo biên bản xác minh nghề nghiệp của bị cáo là làm nông, sống phụ thuộc gia đình, không có tài sản riêng. Vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
Về vật chứng của vụ án: Đối với 0,2251 gam (tinh thể màu trắng hoàn lại sau giám định có trọng lượng là 0,1515 gam); 01 chai nước bằng nhựa màu trắng, nắp chai màu đỏ, trên nắp chai đục hai lỗ, trong đó 01 lỗ gắn với một ống hút nước màu xanh dài 20 cm, 01 lỗ gắn với một ống thủy tinh được uốn cong một đầu do không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu huỷ là phù hợp.
Trong vụ án này còn có những vấn đề sau: Đối với đối tượng nam giới tên Tiến đã cho Phan Văn N ma túy hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đăk Mil, tỉnh Đắk Nông đang tiếp tục điều tra xác minh làm rõ, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Phan Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Áp dụng khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phan Văn N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 17/01/2018.
3. Về vật chứng trong vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu và tiêu hủy 0,2251 gam (tinh thể màu trắng hoàn lại sau giám định có trọng lượng là 0,1515 gam); 01 chai nước bằng nhựa màu trắng, nắp chai màu đỏ, trên nắp chai đục hai lỗ, trong đó 01 lỗ gắn với một ống hút nước màu xanh dài 20 cm, 01 lỗ gắn với một ống thủy tinh được uốn cong một đầu do không còn giá trị sử dụng.
4. Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Phan Văn N phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a,7b và 9 Luật thi hành án Dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh ĐắkNông;
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
- Sở tư pháp tỉnh ĐắkNông;
- VKS ND huyện ĐắkMil;
- Công an huyện ĐắkMil;
- Chi cục THA DS huyện ĐắkMil;
(Đã ký)
- PV27CA Đắk Nông;
- Bị cáo;
- Những người tham gia tố tụng;
- Lưu HS.
Trần Đình Minh
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA - Sở tư pháp tỉnh Đắk Nông; - VKSND huyện Đắk Mil; - Cơ quan điều tra CA huyện Đắk Mil; - Cơ quan THAHS CA huyện Đắk Mil; - Nhà tạm giữ CA huyện Đắk Mil; - Bộ phân nghiệp vụ CA huyện Đắk Mil; - Chi cục THADS huyện Đắk Mil; - Bị cáo; - Lưu HS. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Trần Đình Minh |