vanban.org

Bản án 13/2018/HNGD-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1- Xử cho anh Nguyễn Tất T được ly hôn chị Nguyễn Thị Hồng V.

2- Giao con chung là các cháu Nguyễn Quỳnh O, sinh năm 2001 cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng. Phí tổn nuôi con không đặt ra xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh Nguyễn Xuân T xin ly hôn chị Nguyễn Thị Hồng V"
  • Tòa quyết gì? 1- Xử cho anh Nguyễn Tất T được ly hôn chị Nguyễn Thị Hồng V.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TỪ SƠN
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-Bản án số: 13/2018/HNGD-ST
Ngày: 11/5/2018
----------------------
Về việc : Tranh chấp Hôn nhân
& Gia đình
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Xuân S.
- Các hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Đức Hùng, ông Nguyễn Văn An
án nhân dân thị xã Từ Sơn- tỉnh Bắc Ninh.
Tôn –Kiểm sát viên
Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 106/2018/TLST – HNGĐ ngày
24/01/2018 về việc Tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quyết định đưa vụ án
ra xét xử số: 13/2018/QĐXX - ST ngày 13/4/2018 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Nguyễn Tất T - Sinh năm 1970 ( có mặt)
Trú quán: Số nhà 4, ngõ 74, khu phố T, phường Đ, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh
Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Hồng V
Tạm trú: 201 đường L, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Ngày 11 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Toà án Nhân dân thị xã Từ Sơn - Bắc

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hoà giải, nguyên đơn anh T trình

bày:

Anh kết hôn với chị Nguyễn thị Hồng V từ năm 2001. Trước khi cưới hai

bên có được tìm hiểu, tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND phường Đ, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.

Quá trình chung sống vợ chồng không hòa thuận hạnh phúc, giữa vợ chồng

phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân dẫn tới mâu thuẫn do lối sống và tính cách không hợp, vợ chồng không tin tưởng nhau. Chị V đã tự động bỏ nhà đi và mang theo toàn bộ tài sản của vợ chồng. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 10 năm 2017 cho đến nay. Nay xác định vợ chồng không còn tình cảm anh xin được ly hôn với chị V.

Về con chung : Vợ chồng anh có 01 con chung là cháu Nguyễn Quỳnh O,

sinh năm 2001. Ly hôn anh T tùy vào nguyện vọng của con muốn ở với ai cũng được. Anh tôn trọng quyết định của con.

Về tài sản chung và công nợ vợ chồng không có không yêu cầu Toà án giải

quyết.

Theo chị V trình bầy : Chị kết hôn với anh Nguyễn Tất T từ năm 2001. Trên

cơ sở có được tìm hiểu, tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND phường Đ, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.

Quá trình chung sống giữa vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân dẫn

tới mâu thuẫn do anh T không chịu tu chí làm ăn và không chăm lo đến vợ con. Chị đã nhiều lần khuyên bảo nhưng không được. Anh T lấy chị là người vợ thứ hai nhưng anh T không chung thủy. Hiện tại anh T đang có quan hệ với người khác và làm đơn xin ly hôn chị. Vợ chồng số ly thân từ tháng 12 năm 2017 cho đến nay. Chị xác định vợ chồng không còn tình cảm anh T xin ly hôn chị đồng ý ly hôn.

Về con chung : Vợ chồng anh có 01 con chung là cháu Nguyễn Quỳnh O,

sinh năm 2001. Ly hôn chị xin được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Quỳnh O. Cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hiện tại chị không có thai.

Cháu Quỳnh O trình bầy : Trường hợp bố mẹ ly hôn cháu xin được ở với

mẹ.

Do chị V xin xét xử vắng mặt nên Toà án T hành xét xử vắng mặt đới với chị

V.

Tại phiên tòa anh T vẫn giữ nguyên quan điểm xin được ly hôn với chị V. Về

phần con chung anh T để chị V trực tiếp nuôi dưỡng cháu Quỳnh O.

Về tài sản chung, công nợ vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Toà án giải

quyết.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp

luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, là đúng theo quy định của pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.

Bị đơn không có mặt theo giấy triệu tập để hòa giải là không chấp hành quy

định của luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của anh T.

Xử cho anh T được ly hôn chị V.

Giao con chung là các cháu: Nguyễn Quỳnh O, sinh năm 2001 cho chị V

trực tiếp nuôi dưỡng.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên

toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Anh Nguyễn Tất T và chị Nguyễn Thị Hồng V kết hôn vào năm 2001. Trước

đó hai bên có được tìm hiểu, tự nguyện đi đăng ký kết hôn tại UBND phường Đình Bảng, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, việc kết hôn tuân thủ các điều kiện do luật định. Như vậy, đây là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống giữa anh T chị V sống không hoà thuận, hạnh phúc.

Nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau về suy nghĩ và cách sống, vợ chồng không còn tin tưởng vào nhau. Vợ chồng ly thân từ tháng 12/2017 cho đến nay. Giữa anh T và chị V không có biện pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Nay anh T có đơn xin ly hôn chị V đồng ý ly hôn. Việc anh T và chị V thuận tình ly hôn là hoàn toàn tự nguyện và không trái quy định của pháp luật. Trong trường hợp chị V có mặt tại Toà án để T hành xét xử thì Toà án sẽ công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh T và chị V. Tuy nhiên, do chị V vắng mặt tại phiên toà nên Toà không công nhận việc thuận tình ly hôn giữa anh T và chị V mà xử cho anh T được ly hôn với chị V.

Về con chung: Vợ chồng anh có 01 con chung là cháu Nguyễn Quỳnh O,

sinh năm 2001. Ly hôn chị V xin được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Quỳnh O. Cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nguyện vọng của cháu Quỳnh O cũng là được tiếp tục ở với chị V. Xét thấy nguyện vọng của cháu Quỳnh O là chính đáng và tránh sự xáo trộn trong cuộc sống nên giao cháu Quỳnh O cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng. Vấn đề cấp dưỡng không đề cập gải quyết.

Về tài sản chung, công nợ vợ chồng không đề nghị Toà án giải quyết nên

không đặt ra xem xét.

Về án phí: Anh T phải chịu án phí LHST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 143, 144, 146, 147, 227, 228, 235, 264, 267, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của UBTVQH.

1- Xử cho anh Nguyễn Tất T được ly hôn chị Nguyễn Thị Hồng V.

2- Giao con chung là các cháu Nguyễn Quỳnh O, sinh năm 2001 cho chị V

trực tiếp nuôi dưỡng. Phí tổn nuôi con không đặt ra xem xét.

Về án phí: Anh T phải chịu 300.000đồng án phí Ly hôn sơ thẩm. Xác nhận

anh T đã nộp 300.000đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 03237 ngày 24 tháng 01 năm 2018 tại Chi cục thi hành án Dân sự thị xã Từ sơn.

Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên

án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt án vắng mặt.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ