vanban.org

Bản án 13/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015

Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Mỹ N được ly hôn với ông Hồ Tiểu Đ Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn và nuôi con chung"
  • Tòa quyết gì? Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Mẫu số 52 (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP
ngày 13 tháng 01 năm 2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao)
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH THỦY
TP. CẦN THƠ
Bản án số: 13 /2018/HNGĐ-ST
Ngày 21/3/2018
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY, TP. CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Ánh

Các Hội thẩm nhân dân:1/ Ông Hoàng Văn Tý

2/ Ông Huỳnh Văn Nhân

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy Hương – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thủy, Tp. Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 3 năm 2017, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ xét xử công khai vụ án thụ lý số 343/2017/TLST-HNGĐ ngày 30/10/2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2018/QĐXX-ST ngày 01/3/2018 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Trần Thị Mỹ N. Địa chỉ: phường T, quận T, thành phố C.

*Bị đơn: Ông Hồ Tiểu Đ. Địa chỉ: đường B, phường B, quận B, thành phố C.

Nguyên đơn có mặt, vắng mặt bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Trần Thị Mỹ N trình bày: bà và ông Đ tự nguyện tới tiến quan hệ hôn nhân, có đăng ký kết hôn vào ngày 19/5/2016 tại Ủy ban nhân dân phường B. Trong quá trình chung sống thường phát sinh mâu thuẫn do bất đông quan điểm, vợ chồng sống không có tiếng nói chung, mặc dù vợ chồng ông bà đã cố gắng khắc phục để hàn gắn hạnh phúc nhưng không có kết quả. Vợ chồng đã sống ly thân với nhau, tình cảm ngày càng phai nhạt. Bà nhận thấy cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:

Về quan hệ hôn nhân: xin ly hôn với ông Đ.

Về con chung: ông bà có 01 con chung tên Hồ Phương N, sinh ngày 16/3/2015. Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn ông Hồ Tiều Đ, Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng ông Đ không đến.

Theo biên bản xác minh tại địa phương ngày 11/12/2017 của Tòa án, kết quả xác minh ông Hồ Tiểu Đ còn hộ khẩu thường trú tại địa chỉ số 37/4B đường B, phường B, quận B, thành phố C. Do đó, Tòa án tiến hành niêm yết xét xử vắng mặt ông Đ theo quy định.

Tại phiên toà hôm nay, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu như khởi kiện ban đầu. Phía bị đơn vẫn tiếp tục vắng mặt.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:

Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà N, về con chung do nguyên đơn đang trực tiếp nuôi dưỡng và có các điều kiện để chăm sóc con nên giao con chung cho nguyên đơn nuôi dưỡng là hợp lý. Về tài sản chung, nợ chung: do vắng mặt bị đơn nên đề nghị tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi đương sự phát sinh tranh chấp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ, Hội đồng xét xử nhận định:

Xét quan hệ pháp luật đây là vụ án xin ly hôn được pháp luật điều chỉnh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án.

Tòa án triệu tập ông Hồ Tiểu Đ nhiều lần nhưng bị đơn vắng mặt không rõ lý do nên Tòa án niêm yết thông báo xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định của pháp luật.

Xét thấy, bà N và ông Đ tự nguyện tiến tới quan hệ hôn nhân và có đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận.

Bà N cho rằng bà và ông Đ đã có thời gian chung sống vợ chồng giữa ông bà có nhiều mâu thuẫn kéo dài. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên bà cương quyết xin ly hôn.

Nguyên tắc của hôn nhân phải được xây dựng trên cơ sở tự nguyện, tiến bộ, các thành viên trong gia đình có sự quan tâm chăm sóc , giúp đỡ nhau để cùng xây dựng hạnh phúc gia đình, giữa bà N và ông Đ đã không còn sự tin yêu, quan tâm chăm sóc nhau trong cuộc sống. Ông Đ không đến dự theo giấy triệu tập của Tòa án nên không ghi nhận được ý kiến của ông, đồng thời cho thấy rằng ông không còn quan tâm gì đến mối quan hệ hôn nhân với bà N. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa ông bà mục đích hôn nhân không đạt được, nên bà N yêu cầu xin ly hôn với ông Đ là có sơ sở nên chấp nhận.

Về con chung: có một con chung tên Hồ Phương Nghi(nữ), sinh ngày 16/3/2015. Bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy cháu Nghi sống gần mẹ từ khi cha mẹ sống ly thân, để đảm bảo sự phát triển ổn định của cháu nên việc giao con cho mẹ tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp. Nếu sau này ông Đ thấy rằng việc nuôi dưỡng con chung của bà N không đảm bảo các quyền của trẻ em thì ông được quyền yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: bà N khai nhận là không có, tuy nhiên do vắng mặt ông Đ nên Tòa án tách thành vụ án khác nếu sau này đương sự có tranh chấp.

Về á n phí : Bà N tự nguyện chuyển tiền đã nộp tạm ứng án phí thành á n phí hôn nhân sơ thẩm nên Tòa ghi nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điều 28, 147, 227, 273 Bộ luật tố tụng Dân sự.

- Điều 51,56, 81, 82 Luật Hôn nhân và Gia đình.

- Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015

- Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Mỹ N được ly hôn với ông Hồ Tiểu Đ

- Về con chung: Giao con chung tên Hồ Phương Nghi(nữ), sinh ngày 16/3/2015 cho bà N trực tiếp nuôi con, không buộc ông Đ cấp dưỡng nuôi.

Ông Đ có quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung : Tách thành vụ án khác nếu đương sự có tranh chấp.

- Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp 300.000đồng (ba trăm ngàn đồng). Chuyển tiền bà N đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 008643 ngày 16/10/2017 của Chi cục thi hành án dân sự quận B thành án phí hôn nhân sơ thẩ m. Nguyên đơn đã nộp đủ tiền án phí.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn được quyền kháng cáo, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo.

Cỡ chữ