- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Quách Thị A khởi kiện xin ly hôn anh Đỗ Văn B"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Quách Thị A. Chị Quách Thị A được ly hôn anh Đỗ Văn B.
- Căn cứ chính? Luật Phí và lệ phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THẤT-TP. HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2018/HNGĐ-ST. Ngày: 21 - 5- 2018. V/v: Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THẤT - TP HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tạ Thị Ninh.
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Chiến.
- Bà Nguyễn Thị Mai.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Đình Sáng – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thất tham gia phiên toà: Ông Phùng Văn Chung - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 76/2018/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2018 về việc Tranh chấp Hôn nhân gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2018 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Quách Thị A, sinh năm 1996 (có mặt)
Địa chỉ: Thôn A1, xã A2, huyện A3, TP. Hà Nội.
Bị đơn: Anh Đỗ Văn B, sinh năm 1986 (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn B1, xã B2, huyện A3, TP. Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng tại Tòa án và tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Quách Thị A trình bày:
Chị và anh Đỗ Văn B có thời gian tìm hiểu khoảng một năm rồi tiến đến hôn nhân. Anh chị đăng ký kết hôn vào ngày 24/7/2014 tại UBND xã B2, huyện A3, Thành phố Hà Nội và có tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán tại địa phương. Anh chị chung sống hạnh phúc đến tháng 4/2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh chị không hợp nhau, anh B không làm tròn trách nhiệm của người chồng và hay đánh đập chị, không chịu được nên chị bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Anh chị đã ly thân từ đó đến nay. Nay chị xác định không còn tình cảm và cũng không thể tiếp tục chung sống với anh B nữa nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh B.
Về con chung: Không có.
Về tài sản, công nợ chung: Không có.
Tại bản tự khai và biên bản lấy lời khai ngày 10 tháng 4 năm 2018, bị đơn là anh Đỗ Văn B trình bày:
Về nguyên nhân, điều kiện, nơi đăng ký kết hôn, con chung, tài sản và công nợ chung như chị A trình bày. Anh chị chung sống khoảng hơn một năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do chị A làm việc tại căng tin, chị A thường xuyên liên hệ với bạn bè qua điện thoại lúc nửa đêm. Anh có góp ý nhiều lần nhưng không được. Anh có nói chuyện với bố mẹ chị A để nhờ góp ý với chị nhưng chị A vẫn không thay đổi. Anh chị ly thân từ tháng 4/2016 đến nay. Anh đã nhiều lần đến đón chị A về đoàn tụ nhưng chị A không đồng ý.
Nay chị A khởi kiện xin ly hôn anh, anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nên anh đồng ý ly hôn.
Cùng ngày 10/4/2018, anh Đỗ Văn B có đơn xin giải quyết và xét xử vắng mặt.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thất phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước khi nghị án và phát biểu ý kiến về đường lối giải quyết vụ án như sau: Việc Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Việc xác định quan hệ pháp luật, xác định tư cách người tham gia tố tụng, việc thu thập chứng cứ, cấp tống đạt văn bản tố tụng đều đảm bảo đúng pháp luật. Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng nhiệm vụ, thẩm quyền. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị A và anh B đã trầm trọng nên đề nghị HĐXX áp dụng Điều 51, 56, 57 Luật Hôn nhân và gia đình, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326 của Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Quách Thị A, cho chị A được ly hôn anh Đỗ Văn B.
Về con chung: Không có nên HĐXX không phải xem xét
Về tài sản chung, công nợ chung: Không có nên HĐXX không phải xem xét.
Về án phí: Chị Quách Thị A phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Tranh chấp giữa các bên là “tranh chấp về ly hôn” và bị đơn là anh Đỗ Văn B có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn B1, xã B2, huyện A3, thành phố Hà Nội nên Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Ngày 10/4/2018, anh Đỗ Văn B có đơn xin giải quyết và xét xử vắng mặt nên Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất xét xử vắng mặt anh Đỗ Văn B là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
2.1 Về quan hệ hôn nhân:
Chị Quách Thị A và anh Đỗ Văn B kết hôn hợp pháp, anh chị có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã B2, huyện A3, thành phố Hà Nội vào ngày 27/4/2014. Trong quá trình chung sống, vợ chồng chỉ chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách không hợp nhau nên vợ chồng bất đồng nhiều quan điểm trong cuộc sống và thường xuyên xảy ra cãi vã. Hiện tại, anh chị đã ly thân từ tháng 4/2018 và đã không còn chung sống. Mặc khác, anh chị cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị A xin ly hôn anh B đồng ý. Hội đồng xét xử thấy rằng mâu thuẫn giữa vợ chồng chị A và anh B đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị A và anh B là phù hợp Điều 51, 56 Luật Hôn nhân gia đình nên được Hội đồng xét xử ghi nhận.
2.2 Về con chung: Chị A và anh B không có con chung nên HĐXX không phải xem xét.
2.3 Về tài sản, công nợ chung: Chị A và anh B không có tài sản và công nợ chung nên HĐXX không phải xem xét.
.Về án phí:
Chị Quách Thị A phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Áp dụng Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 57 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Áp dụng Luật phí và lệ phí năm 2015;
- Áp dụng Điều 26 và khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
1. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Quách Thị A. Chị Quách Thị A được ly hôn anh Đỗ Văn B.
Quan hệ hôn nhân giữa chị Quách Thị A và anh Đỗ Văn B chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
2. Về án phí: Chị Quách Thị A phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Số tiền này được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000798 ngày 10/4/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội.
3. Về quyền kháng cáo: Chị Quách Thị A có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Anh Đỗ Văn B có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận - TAND thành phố Hà Nội; - VKSND huyện Thạch Thất; - CCTHADS huyện Thạch Thất; - Các đương sự; - UBND xã B2, huyện A3; - Lưu hồ sơ vụ án. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tạ Thị Ninh |