vanban.org

Bản án 13/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Đình S được ly hôn chị Lê Thị T.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Đình S phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng ), được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000982, ngày 14 thán… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "vụ S-T"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Đình S được ly hôn chị Lê Thị T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN M
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2018/HNGĐ- ST
Ngày: 03-7-2018
“V/v Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M, TỈNH QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đàm Quang Hiệp.

Các Hội thẩm nhân: Ông Huỳnh Văn Hiền và bà Nguyễn Thị An.

- Thư ký phiên toà: Bà Võ Thị Ngọc Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Lệ - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 7 năm 2018, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện M, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 46/2018/TLST- HNGĐ, ngày 14 tháng 3 năm 2018, về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2018/QĐXXST- HNGĐ, ngày 18 tháng 6 năm 2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Đình S. Địa chỉ: Đội 4, khối V, thị trấn S, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi.

- Bị đơn: Chị Lê Thị T. Địa chỉ: Xóm B, thôn V, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi.

Anh S có mặt, chị T yêu cầu xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện ngày 07/3/2018, các lời khai tại Tòa án và tại phiên tòa, nguyên đơn anh Nguyễn Đình S trình bày: Anh và chị Lê Thị T tìm hiểu yêu thương nhau trong thời gian khoảng 06 tháng rồi tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn S, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi vào ngày 02/8/2010. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc khoảng 06 tháng thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình hai người không hợp nhau nên thường xảy ra cải vả, bất hòa. Tháng 12/2010, chị T tự ý bỏ về phía cha mẹ đẻ ở xã Đ, huyện M sinh sống cho đến nay, phần ai nấy sống không quan tâm gì đến nhau. Nay xét thấy tình cảm giữa anh và chị T không còn nên yêu cầu Tòa án nhân dân huyện M cho anh được ly hôn với chị T.

Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không có.

* Tại biên bản lấy lời khai ngày 18/6/2018, bị đơn chị Lê Thị T trình bày: Chị và anh Nguyễn Đình S có đăng ký kết hôn, thời gian vợ chồng chung sống có nhiều mâu thuẫn nên không sống chung được mà ly thân nhau mãi đến nay đã gần 08 năm, phần ai nấy sống, không ai quan tâm đến ai. Nay cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, anh S yêu cầu ly hôn chị đồng ý.

Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Các tài liệu, chứng cứ mà các đương sự đã giao nộp cho Tòa án: Giấy chứng nhận kết hôn (Bản chính), Giấy chứng minh nhân dân tên Nguyễn Đình S (Bản sao), sổ hộ khẩu đứng tên chủ hộ Nguyễn Phi H (Bản sao), Giấy xác nhận hộ khẩu thường trú.

Các tình tiết các đương sự đã thống nhất được với nhau:

+ Anh Nguyễn Đình S yêu cầu ly hôn, chị Lê Thị T đồng ý.

+ Về tài sản chung, con chung, nợ chung: Không có.

Các tình tiết các đương sự không thống nhất được với nhau: Không có.

Lý lẽ, lập luận của các đương sự:

- Anh S trình bày: Vợ chồng anh đã ly thân nhau đã 08 năm, phần ai nấy sống nên anh yêu cầu được ly hôn với chị T.

- Chị T vắng mặt tại phiên toà, không có lý lẽ và lập luận gì.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử; Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đúng quy định của pháp luật. Bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.

Về việc giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 51, 53, 56 Luật HNGĐ 2014 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:

+ Anh Nguyễn Đình S và chị Lê Thị T được ly hôn.

+ Các đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Tòa án đã thụ lý đơn khởi kiện đúng trình tự thủ tục, đúng thẩm quyền, giải quyết vụ án trong thời hạn luật định. Nguyên đơn anh Nguyễn Đình S chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Bị đơn chị Lê Thị T vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án, không chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Ngày 18/6/2018, chị T yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn anh Nguyễn Đình S và bị đơn chị Lê Thị T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào ngày 02/8/2010 tại Ủy ban nhân dân thị trấn S, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn là hợp pháp. Trong quá trình chung sống, nguyên đơn và bị đơn phát sinh mâu thuẫn và đã ly thân nhau từ tháng 12 năm 2010 mãi đến nay, phần ai nấy sống, không còn quan hệ gì với nhau nữa. Việc nguyên đơn yêu cầu ly hôn, bị đơn đồng ý. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập các bên đến làm việc, hòa giải nhưng bị đơn không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa anh S và chị T đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Việc anh S xin ly hôn chị T là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh S.

Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng)

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Đình S được ly hôn chị Lê Thị T.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Đình S phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng ), được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000982, ngày 14 tháng 3 năm 2018.

3. Anh Nguyễn Đình S có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (03/7/2018). Đối với chị Lê Thị T không có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ