- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hon,tranh chap ve nuoi con"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Trương Thị X được ly hôn với anh Lâm Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÙ LAO DUNG TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2018/HNGĐ-ST Ngày 20-11-2018 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÙ LAO DUNG, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Đua
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Thanh Tuấn
Ông Nguyễn Hồng Phúc
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Ngoan, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Minh – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 100/2018/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 8 năm 2018 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 10 năm 2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trương Thị X, sinh năm 1991 (có mặt).
Địa chỉ: ấp N, xã XQ, huyện CM, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Anh Lâm Văn T, sinh năm 1982 (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp An P, xã An Thạnh T, huyện CLD, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 12/3/2018, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn chị Trương Thị X trình bày:
Về hôn nhân: Vào năm 2010, chị và anh Lâm Văn T được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Thời gian đầu chị và anh T chung sống hạnh phúc. Đến tháng 10/2015 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng ý kiến trong cuộc sống, nên cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc. Đến tháng 10/2016 thì chị và anh T sống ly thân cho đến nay.
- Về con chung: Trong thời gian chung sống chị và anh T có một người con chung tên: Lâm Thị Ngọc N, sinh ngày 02/11/2010, hiện nay cháu N đang sống chung với chị.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Nay chị yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:
- Về hôn nhân: Chị yêu cầu được ly hôn với anh Lâm Văn T, vì hiện nay mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, nên chị và anh T không thể tiếp tục chung sống được nữa.
- Về con chung: Chị yêu cầu được nuôi dưỡng người con chung tên: Lâm Thị Ngọc N, sinh ngày 02/11/2010 cho đến khi thành niên, chị không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn anh Lâm Văn T, Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Tuy nhiên, tại bản tự khai ngày 24/9/2018, trong quá trình giải quyết vụ án, anh Lâm Văn T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân, quan hệ con chung, tài sản chung và nợ chung: Anh thống nhất với lời trình bày của chị Trương Thị X. Giữa anh với chị X thời gian đầu sống chung có hạnh phúc. Đến tháng 10/2016, không biết lý do gì mà chị X dẫn cháu N về nhà cha mẹ ruột của chị X ở Đồng Nai để ở và từ đó cho đến nay hai người đã sống ly thân với nhau. Việc chị X đưa ra những nguyên nhân để xin ly hôn là không đúng, giữa anh với chị X không có gì mâu thuẫn trầm trọng và anh cũng không đồng ý ly hôn với chị X, muốn đoàn tụ gia đình để chăm sóc con chung.
- Về con chung: Anh không đồng ý giao cháu Lâm Thị Ngọc N, sinh ngày 02/11/2010 cho chị X nuôi dưỡng mà anh yêu cầu được nuôi dưỡng cháu N đến khi thành niên và anh không yêu cầu chị X cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cù Lao Dung phát biểu ý kiến tại phiên tòa: Qua thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý đến thời điểm tranh luận tại phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký phiên tòa cũng như Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, chứng cứ được thu thập đầy đủ đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho các đương sự. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, đối với bị đơn tại phiên tòa hôm nay mặc dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn theo quy định của pháp luật.
Về nội dung giải quyết vụ án: Qua xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, quá trình tranh tụng tại phiên tòa cho thấy: Tình trạng hôn nhân giữa chị Trương Thị X với anh Lâm Văn T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, các bên đương sự hiện không còn sống chung với nhau và không quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử cho chị X được ly hôn với anh T.
Về con chung: Để ổn định tâm lý của cháu N nên đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục giao cháu Lâm Thị Ngọc N, sinh ngày 02/11/2010 cho chị X nuôi dưỡng đến khi thành niên theo nguyện vọng của cháu N. Việc cấp dưỡng nuôi con do chị X không yêu cầu anh T cấp dưỡng nên không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không đặt ra xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, bị đơn có địa chỉ tại ấp An P, xã An Thạnh T, huyện CLD, tỉnh Sóc Trăng nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án nhân dân huyện CLD thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là: “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” là đúng với quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Xét đơn yêu cầu về việc xin ly hôn của chị Trương Thị X đối với anh Lâm Văn T, Hội đồng xét xử xét thấy: Về quan hệ hôn nhân của chị X và anh T không vi phạm các điều kiện kết hôn và sau khi sống chung hai người có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị xã An Thạnh T, huyện CLD, tỉnh Sóc Trăng nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Xét thấy, mối quan hệ hôn nhân giữa chị X với anh T phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hòa hợp, thiếu quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, tại phiên tòa chị X vẫn giữ nguyên nội dung yêu cầu xin được ly hôn với anh T. Mặt khác, giữa chị X với anh T hiện hai người không còn sống chung với nhau từ tháng 10/2016 cho đến nay. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy tình trạng hôn nhân giữa các bên đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận cho chị X được ly hôn với anh T.
Về con chung: Cháu Lâm Thị Ngọc N, sinh ngày 02/11/2010, tại biên bản lấy lời khai ngày 24/9/2018 của Tòa án đối với cháu N thì cháu N có nguyện vọng được sống chung với mẹ khi cha mẹ của cháu ly hôn. Mặt khác, kể từ khi chị X và anh T sống ly thân với nhau từ tháng 10/2016 cho đến nay thì cháu N sống chung với chị X, không có sống chung với anh T. Do đó, để ổn định về mặt tâm lý cho cháu N, Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục giao cháu N cho chị X tiếp tục nuôi dưỡng đến khi thành niên là phù hợp với quy định của pháp luật. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cho anh T, không ai được cản trở. Về cấp dưỡng nuôi con: Do Chị X không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi cháu N nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự trình bày là không có và không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Lời đề nghị của Vị Kiểm sát viên là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Chị Trương Thị X phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điều 5, khoản 1 Điều 28, Điểm a khoản 1 Điều 35, Điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 143, Điều 144, khoản 4 Điều 147, Điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273, Điều 278 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 57, khoản 2 Điều 81 và khoản 3 Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chị Trương Thị X được ly hôn với anh Lâm Văn T.
2. Về con chung tên: Chị Trương Thị X được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên: Lâm Thị Ngọc N, sinh ngày 02/11/2010 đến khi thành niên. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cho anh T, không ai được cản trở. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị X không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi cháu N nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự trình bày là không có và không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
4. Về án phí: Chị Trương Thị X phải chịu là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị X đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000572, ngày 16 tháng 8 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện CLD. Như vậy, chị X đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm. Anh Lâm Văn T không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, đối với bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014.
| Nơi nhận: - VKSND huyện CLD; - Chi cục THADS huyện CLD; - Phòng KTNV&THA TAND tỉnh ST; - Các đương sự; - Lưu VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đặng Văn Đua |