vanban.org

Bản án 13/2018/HC-PT — Hành chính

TAND tỉnh Nghệ An Tuyên án 26/11/2018 Hành chính Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 26/11/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bác kháng cáo của ông Nguyễn Sỹ H, giữa nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm số 09/2017/HC-ST ngày 09/10/2017 của Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Nghệ An.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện, tuyên hủy toàn bộ Quyết định số 4817/QĐ-UBND ngày 16/8/2012 về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BL 287898, số vào s… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "khởi kiện quyết định đất đai"
  • Tòa quyết gì? Bác kháng cáo của ông Nguyễn Sỹ H, giữa nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm số 09/2017/HC-ST ngày 09/10/2017 của Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Nghệ An.
  • Căn cứ chính? Nghị định số 120/2010/NĐ-CP Về sửa đổi, bổ sung một số điều…; Điều 1 Nghị quyết số 104/2015/QH13 Thi hành Luật tố tụng hành chính; Điều 104 Luật tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2018/HC-PT
Ngày: 26/11/2018
V/v khiếu kiện quyết định hành chính
trong lĩnh vực quản lý đất đai

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thi

Các thẩm phán: Bà Lang Thị Duyến

Bà Nguyễn Thị Thu Từ

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Phương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thúy Hằng - Chức vụ : Kiểm sát viên

Ngày 26 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 10/2018/TLPT- HC ngày 05 tháng 10 năm 2018 về yêu cầu Hủy quyết định hành chính trong lĩnh vực khiếu kiện đất đai theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14 /2018/QĐXX-ST ngày 31 tháng 10 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Người khởi kiện: Ông Trần Văn T, sinh năm 1977 và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1977; Đều trú tại: xóm 3, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An (có mặt)

Đại diện theo ủy quyền: Bà Đào Thị H – Luật sư thuộc Văn phòng luật sư Miền Trung, Đoàn luật sư tỉnh Nghệ An ( Văn bản ủy quyền ngày 12/03/2015 ); có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện: Bà Lê Thị Kim S, Luật sư thuộc Văn phòng luật sư L, Đoàn luật sư tỉnh Nghệ An (có mặt)

2. Người bị kiện: Ủy ban nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

Địa chỉ: số 25, đường Lê Mao, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hoài A – chức vụ: Chủ tịch UBND thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An ( vắng mặt )

Đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Sỹ C – chức vụ: Phó Chủ tịch UBND thành phố Vinh ( Văn bản ủy quyền số 5094 ngày 11/8/2017); (vắng mặt).

3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Bà Võ Thị Thu H, sinh năm 1979 (có mặt)

Trú tại: khối 17, phường Hà Huy Tập, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

- Ông Nguyễn Sỹ H, sinh năm 1975 (vắng mặt )

Trú tại: khối 17, phường Hà Huy Tập, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

- Phòng công chứng số 1, tỉnh Nghệ An

Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Cảnh T – Trưởng phòng công chứng số 1 tỉnh Nghệ An (vắng mặt)

- Ủy ban nhân dân xã Nghi Phú, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

Địa chỉ: xóm 12, xã Nghi Phú, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.

Đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Thanh T – Chủ tịch UBND xã Nghi Phú (vắng mặt)

- Bà Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1970 (vắng mặt)

Trú tại: khối 12, phường Hà Huy Tập, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

Hiện đang chấp hành án tại trại giam số 6, Tổng cục 8, Bộ Công an

- Bà Hồ Thị N, sinh năm 1972 ( có mặt )

Trú tại: xóm 10, xã Nghi Phú, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Ngày 16/8/2012, Ủy ban nhân dân thành phố Vinh (viết tắt: UBND TP Vinh) ban hành Quyết định số 4817/QĐ-UBND về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất và ban hành Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BL 287898, số vào sổ cấp GCN:CH 13609/số 4817-QĐUBND( 2012) đối với thửa đất số 14, tờ bản đồ 09, diện tích 227,5m2 tại xóm 3, xã Nghi Phú, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An cho ông Nguyễn Sỹ H, sinh năm 1975, địa chỉ thường trú: khối 17, phường Hà Huy Tập, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.

Sau khi biết được UBND thành phố Vinh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt: GCNQSDĐ) cho ông Nguyễn Sỹ H, ông Trần Văn T bà Nguyễn Thị M đã làm đơn gửi lên UBND xã N, thành phố V. Ngày 24/4/2014, UBND xã Nghi Phú tiến hành hòa giải nhưng không thành. Ông bà tiếp tục gửi đơn lên UBND TP V. UBND TP V đã có Công văn số 3557/UBND -TNMT ngày 25/7/2014 trả lời đơn của ông bà, khẳng định UBND TP V cấp GCNQSDĐ cho ông Nguyễn Sỹ H là đúng quy định pháp luật.

Không đồng ý với công văn trả lời của UBND TP V. Ngày 05/12/2014, ông T, bà M có đơn khởi kiện vụ án hành chính đến Tòa án nhân dân thành phố Vinh yêu cầu hủy Quyết định số 4817/QĐ-UBND ngày 16/8/2012 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BL 287898, số vào sổ cấp GCN:CH 13609/số 4817-QĐUBND( 2012) ngày 16/8/2012 mang tên ông Nguyễn Sỹ H của Ủy ban nhân dân thành phố V.

Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện là bà Đào Thị H trình bày: Ông Trần Văn T, bà Nguyễn Thị M được Uỷ ban nhân dân thành phố Vinh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 817520; số vào sổ cấp GCNQSDĐ số H00082/số 1237 QĐ.UBND ngày 27/11/2007 đối với thửa đất số 14, tờ bản đồ số 09, diện tích 227,50m2 tại xóm 3, xã N, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Do có mối quan hệ bạn bè nên ông T, bà M đã cho bà Hồ Thị N, trú tại xóm 10, xã N, thành phố V mượn GCNQSDĐ để thế chấp ngân hàng vay tiền.

Vào ngày 02/8/2010, ông T, bà M cùng với bà N đến Phòng công chứng số 1, tỉnh Nghệ An ký một số văn bản để làm thủ tục thế chấp cho bà Năng vay Ngân hàng với số tiền 300.000.000 đồng. Do không biết chữ và tin tưởng bà N nên ông Th, bà M đã ký vào các văn bản mà không biết cụ thể nội dung những văn bản đó là gì. Sau này ông T, bà M mới biết bà N có hợp tác làm ăn với bà Nguyễn Thị T . Sau khi mượn được GCNQSDĐ thì bà Năng và bà T lại đi thế chấp cho bà Võ Thị Thị H để vay tiền. Việc bà Thuỷ và bà Võ Thị Tú H vay tiền với nhau như thế nào thì ông T, bà M không biết. Do đó, sau này ông T, bà M mới biết bị lừa ký vào Hợp đồng uỷ quyền với nội dung:

- Đối tượng uỷ quyền: quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 817520, thửa đất số 14, tờ bản đồ số 09, diện tích 227,50m2 tại xóm 3, xã N, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An; số vào sổ cấp GCNQSDĐ số H00082/số 1237 QĐ.UBND, do UBND thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An cấp ngày 27/11/2007

- Phạm vi uỷ quyền: ông T, bà M uỷ quyền cho bà Võ Thị Tú H thực hiện các việc quản lý, sử dụng, chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, thế chấp để đảm bảo nghĩa vụ của bên thứ ba, cho thuê quyền sử dụng đất nói trên.

- Thời hạn uỷ quyền: Thời hạn uỷ quyền kể từ ngày 02/8/2010 cho đến khi công việc uỷ quyền được hoàn tất. Hoặc khi hợp đồng uỷ quyền hết hiệu lực theo quy định của pháp luật về uỷ quyền.

Ngoài ra hai bên có thoả thuận khác như sau: Một trong hai bên không được đơn phương chấm dứt hợp đồng uỷ quyền này nếu như công việc uỷ quyền trên chưa được thực hiện xong và không được sự đồng ý của bên còn lại.

Ngày 28/5/2012 bà Võ Thị Tú H căn cứ vào Hợp đồng uỷ quyền, đã ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với thửa đất trên cho ông Nguyễn Sỹ H ( là chồng của bà Hương). Ông H đã tiến hành làm các thủ tục cấp GCNQSDĐ. Ngày 16/8/2012 UBND TP V đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BL 287898 thửa đất trên cho ông Nguyễn Sỹ Hùng.

Ông T, bà M cho rằng UBND TP Vinh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất trên cho ông Nguyễn Sỹ H là trái quy định pháp luật với các lý do: Đây là hợp đồng ủy quyền không xác định thời hạn. Theo quy định tại Điều 582 Bộ luật dân sự 2005 quy định về thời hạn uỷ quyền “Nếu không có thoả thuận và pháp luật không có quy định thì hợp đồng uỷ quyền có hiệu lực một năm, kể từ ngày xác lập việc uỷ quyền”. Như vậy, hợp đồng uỷ quyền giữa ông T, bà M với bà H có hiệu lực kể từ ngày 02/8/2010 đến ngày 02/8/2011 thì hết hiệu lực. Ngày 28/5/2012 bà Hương căn cứ vào Hợp đồng uỷ quyền để xác lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Sỹ H là trái pháp luật; Ông T, bà M chỉ uỷ quyền đối tượng là quyền sử dụng đất, không uỷ quyền tài sản gắn liền với đất là ngôi nhà 2 tầng. Nhưng bà Hương ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ( ngôi nhà 2 tầng) cho ông Nguyễn Sỹ H mà không thông báo cho ôngT, bà M là vượt quá phạm vi uỷ quyền; Thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cũng như thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Sỹ Hùng có nhiều vi phạm, không đảm bảo đúng quy định pháp luật.

Ông T, bà M cho rằng Quyết định số 4817/QĐ-UBND ngày 16/8/2012 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BL 287898 ngày 16/8/2012 do UBND TP Vinh cấp cho ông Nguyễn Sỹ H đã ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông T, bà M nên yêu cầu hủy bỏ quyết định và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên.

Ông Thái, bà M, Luật sư bà Lê Thị Kim S thống nhất ý kiến như bà Đào Thị H trình bày không có ý kiến gì thêm.

Ý kiến người bị kiện: Tại hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trần Văn T, bà Nguyễn Thị M với ông Nguyễn Sỹ H phản ánh có tờ khai chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất lập ngày 20/5/2012 được UBND xã N, thành phố V xác nhận là không có tranh chấp, Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có đầy đủ chữ ký của bên chuyển nhượng do người được uỷ quyền là bà Võ Thị Tú H ký và bên nhận chuyển nhượng là ông Nguyễn Sỹ H ký được Phòng công chứng số 1, tỉnh Nghệ An chứng thực ngày 28/5/2012. Hai bên đã lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo đúng quy định của pháp luật và đúng trình tự, thủ tục được quy định tại Quyết định số 09/2010/ QĐ-UBND ngày 13/7/2010 của UBND TP V ban hành quy định về công nhận lại quyền sử dụng đất, tách thửa, chuyển mục đích sử dụng đất, chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn thành phố V.

Về thủ tục cấp GCNQSDĐ do thửa đất chuyển nhượng nằm trong diện quy hoạch có một phần diện tích đất nằm trong chỉ giới xây dựng nên UBND xã Nghi Phú đã lập biên bản kiểm tra hiện trạng sử dụng đất ngày 06/7/2012. Tuy nhiên đây không phải là tài liệu bắt buộc trong hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Theo quy định tại Điều 106 Luật đất đai năm 2003, Điều 148 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính Phủ thì trường hợp nêu trên đủ điều kiện để cấp GCNQSDĐ. Hợp đồng uỷ quyền giữa ông Thái, bà Minh với bà Hương chỉ uỷ quyền thực hiện các quyền liên quan đến việc sử dụng đất (không bao gồm tài sản) và Hợp đồng chuyển nhượng chỉ được chứng thực nội dung chuyển nhượng quyền sử dụng đất, không chứng thực chuyển nhượng tài sản gắn liền với đất. Nếu công dân không có đơn yêu cầu đăng ký quyền sở hữu tài sản trên đất thì GCNQSDĐ không chứng nhận quyền sở hữu tài sản trên đất. Do đó, UBND TP Vinh cấp GCNQSDĐ mang tên ông Nguyễn Sỹ H, không chứng nhận quyền sở hữu nhà ở là đúng quy định mặc dù tại thời điểm chuyển nhượng có tồn tại ngôi nhà 2 tầng, quá trình kê khai thủ tục để cấp GCNQSDĐ có kê khai nhưng công chứng chỉ công chứng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Như vậy, việc UBND TP Vinh ban hành Quyết định số 4817/QĐ - UBND ngày 16/8/2012 về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mã số BL 287898 ngày 16/8/2012 cho ông Nguyễn Sỹ Hùng đối với thửa đất số 14, tờ bản đồ số 09, diện tích 227,5m2 tại xóm 3, xã Nghi Phú, thành phố Vinh (không công nhận quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất) là hoàn toàn đúng quy định pháp luật.

Ý kiến của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Ý kiến của bà Võ Thị Tú Hương: Bà quen ông T, bà M thông qua bà Hồ Thị N. Vào năm 2010, bà Minh có đặt vấn đề với bà Hương nhờ vay hộ một khoản tiền để cho ông T đi kinh doanh gỗ ở bên Lào. Do nể quen biết bà Năng nên bà Hương đã cho bà Minh, ông Thái vay số tiền 1.500.000.000đ, đồng thời ông Thái, bà Minh đồng ý thế chấp nhà và đất tại thửa đất 14, tờ bản đồ 09, diện tích 227,50m2 thuộc xóm 3, xã N, thành phố V cho bà để đảm bảo khoản vay. Tại thời điểm đó thửa đất trên đang được ông Thái, bà Minh thế chấp vay vốn tại ngân hàng TMCP Kỷ Thương Việt Nam - chi nhánh Nghệ An vào năm 2009. Để có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất làm căn cứ ký hợp đồng uỷ quyền nên giữa hai bên đã thoả thuận bà Hương sẽ trả tiền nợ ngân hàng cho ông T, bà M. Từ thoả thuận đó ngày 02/8/2010 bà Hương đã chi ra số tiền hơn 700.000.000 đồng cùng với ông Thái, bà Minh đến ngân hàng TMCP Kỷ Thương Việt Nam - chi nhánh Nghệ An trả hết nợ ngân hàng. Sau khi hoàn tất mọi thủ tục trả nợ tại ngân hàng và xoá thế chấp thì bà đã giao nốt số tiền còn lại ông T, bà M. Tổng số tiền bà cho vợ chồng ông T, bà M vay là 1.500.000.000 đồng. Ngay trong ngày 02/8/2010 bà và ông T, bà M cùng đi đến Phòng công chứng số 1 ký một giấy giao nhận tiền vay, thỏa thuận thời hạn vay là 3 tháng và đồng thời 02 bên đồng ý ký Hợp đồng ủy quyền để đảm bảo khoản vay trong trường hợp hết thời hạn vay 3 tháng bà Minh, ông Thái không trả được tiền thì bà có quyền mua bán chuyển nhượng, thế chấp.... đối với thửa đất 14, tờ bản đồ 09, diện tích 227,50m2 tại xóm 3, xã N, thành phố Vinh. Công chứng viên là ông Nguyễn Cảnh Toàn đã giải thích rõ quyền và nghĩa vụ cũng như hậu quả cho bà cùng với ông Thái, bà Minh nghe. Bà và ông T, bà M đã đọc và nghe đọc nội dung hợp đồng uỷ quyền và thấy ghi đúng ý chí thoả thuận giữa bà và ông T, bà M nên cả hai bên đều nhất trí và ký tên vào hợp đồng ủy quyền.

Sau thời hạn 03 tháng, bà nhiều lần yêu cầu ông Thái, bà Minh trả nợ nhưng không được. Căn cứ vào hợp đồng ủy quyền, ngày 28/5/2012 bà buộc phải ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất trên cho ông Nguyễn Sỹ Hùng để đảm bảo quyền lợi cho bà. Quá trình kê khai chuyển nhượng bà và ông Hùng có kê khai tài sản gắn liền với đất là ngôi nhà cấp 4, diện tích sàn 48m2. Do ông T, bà M đã uỷ quyền cho bà nên bà không cần thông báo cho họ biết. Sau đó ông Hùng đã làm thủ tục cấp lại GCNQSDĐ và được UBND TP Vinh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BL287898 ngày 16/8/2012 mang tên ông Nguyễn Sỹ Hùng. Quá trình ký hợp đồng ủy quyền thì ông Thái, bà Minh đồng ý ủy quyền cho bà có quyền bán chuyển nhượng cả ngôi nhà trên đất nhưng do sơ suất khi lập hợp đồng ủy quyền không phản ánh ngôi nhà trên đất. Do đó bà và ông H đồng ý hỗ trợ trị giá ngôi nhà trên đất cho ông T, bà M theo trị giá định giá để đảm bảo quyền lợi cho ông T, bà M. Nay ông T, bà M khởi kiện yêu cầu Toà án huỷ Quyết định 4817/QĐ-UBND ngày 16/8/2012 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BL 287898 ngày 16/8/2012 mang tên ông Nguyễn Sỹ H do UBND TP V cấp thì bà không đồng ý.

- Ý kiến của ông Nguyễn Sỹ H: Vào ngày 28/5/2012 ông có nhận chuyển nhượng từ bà Võ Thị Tú Hương 01 thửa đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 14, tờ bản đồ số 09 có diện tích 227,5m2 thuộc xóm 3, xã Nghi Phú, thành phố Vinh. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đã được Phòng công chứng số 1, tỉnh Nghệ An công chứng theo đúng quy định của pháp luật. Khi ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất nói trên, bà Võ Thị Tú H đã được ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị M uỷ quyền thông qua Hợp đồng uỷ quyền ký ngày 02/8/2010 tại Phòng công chứng số 1, tỉnh Nghệ An. Trong hợp đồng uỷ quyền nêu trên ông T, bà M đã uỷ quyền cho bà H được quyyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cho bên thứ 3. Vì vậy việc ông ký kết hợp đồng nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn lion với đất với bà H là hoàn toàn hợp pháp. Sau khi thực hiện đầy đủ các thủ tục theo quy định của pháp luật về nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất. UBND TP Vinh đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BL 287898 vào ngày 16/8/2012 cho ông là Nguyễn Sỹ H. Vì vậy, ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn T, bà Nguyễn Thị M.

- Ý kiến của đại diện Phòng công chứng số 1, tỉnh Nghệ An: Phòng công chứng số 1 nhất trí như ý kiến của UBND TP Vinh đã trình bày. Tại thời điểm công chứng hợp đồng uỷ quyền ngày 02/8/2010 giữa ông T, bà M với bà H ( số công chứng 683A, quyển số 01/Tp/CC-SCC/HĐGD) thì có đầy đủ những người tham gia ký hợp đồng là ông T, bà M, bà H. Trước khi công chứng Hợp đồng, ông đã giải thích đầy đủ quyền và nghĩa vụ cho các bên tham gia nghe, giải thích rõ hậu quả pháp lý cho ông T, bà M, bà H nghe rõ và không ai có ý kiến gì thêm. Ông T, bà M, bà H yêu cầu rõ nội dung cần uỷ quyền nhưng do họ là người dân không nắm rõ câu chữ của luật nên đã nhờ ông thảo soạn hợp đồng uỷ quyền trên cơ sở ý chí của họ. Sau khi soạn xong nội dung hợp đồng uỷ quyền thì ông đã đọc lại cho ông Thái, bà Minh, bà Hương nghe và giải thích rõ những điều khoản trong hợp đồng uỷ quyền. Ông T, bà M, bà H đã nghe rõ, không yêu cầu giải thích gì thêm và cùng ký tên điểm chỉ vào hợp đồng uỷ quyền.

Phòng công chứng căn cứ vào GCNQSDĐ số AK 817520 ngày 27/11/2007 do UBND thành phố Vinh cấp cho ông Trần Văn T, bà Nguyễn Thị M đối với thửa đất số 14, tờ bản đồ 09, diện tích 227,50m2 tại xóm 3, xã Nghi Phú, thành phố Vinh, Nghệ An ( đối với tài sản gắn liền với đất chưa được nhà nước chứng nhận quyền sở hữu nhà). Phòng công chứng không được công chứng những nội dung mà nhà nước chưa chứng nhận quyền sở hữu. Mặt khác tại thời điểm công chứng các bên cũng không kê khai trên đất có ngôi nhà 2 tầng. Vì vậy, phòng công chứng chỉ công chứng uỷ quyền đối tượng là quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 14, tờ bản đồ 09, diện tích 227,50m2 tại xóm 3, xã N, thành phố Vinh, Nghệ An, không công chứng đối tượng uỷ quyền tài sản gắn liền với đất là ngôi nhà 02 tầng là đúng quy định pháp luật.

Ngày 28/5/2012, căn cứ vào hợp đồng ủy quyền, phòng công chứng đã công chứng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bên chuyển nhượng do người được ủy quyền là bà H với bên nhận chuyển nhượng là ông H. Mặc dù tại thời điểm ký hợp đồng chuyển nhượng các bên có kê khai tài sản gắn liền với đất là ngôi nhà cấp 4 diện tích 48m2 nhưng do trong GCNQSDĐ chưa được chưa được nhà nước chứng nhận quyền sở hữu nhà. Do đó phòng công chứng không được công chứng những nội dung mà Nhà nước chưa chứng nhận quyền sở hữu. Vì vậy, Phòng công chứng chỉ công chứng chuyển nhượng đối tượng là quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 14, tờ bản đồ 09, diện tích 227,50m2 tại xóm 3, xã N, thành phố Vinh, Nghệ An, không công chứng đối tượng chuyển nhượng tài sản gắn liền với đất là đúng quy định pháp luật.

- Ý kiến của UBND xã N: Trong văn bản trả lời số 235 ngày 25/8/2015 thì UBND xã Nghi Phú thừa nhận về trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong đó việc lập biên bản kiểm tra hiện trạng ngày 06/7/2012 không đúng quy định vì lập sau khi tờ khai được UBND xã Nghi Phú xác nhận vào ngày 25/5/2012 và sau Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Văn phòng công chứng số 1 chứng thực vào ngày 28/5/2012. Việc không tiến hành kiểm tra hiện trạng sử dụng đất dẫn đến phản ánh tài sản gắn liền với đất không đúng thực tế là sai sót do lỗi sơ suất của UBND xã Nghi Phú. Việc xác định không đúng hiện trạng tài sản gắn lion với đất là không đảm bảo quyền lợi cho người sử dụng đất mặt khác cũng ảnh hưởng đến việc xác định nghĩa vụ đối với người sử dụng đất khi làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất. UBND xã Nghi Phú cho rằng bên được ủy quyền chỉ được thực hiện các nội dung ủy quyền có trong hợp đồng ủy quyền. Những nội dung không có trong Hợp đồng ủy quyền ( phần tài sản gắn liền với đất trong Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất) thì sẽ không thuộc phạm vi điều chỉnh của hợp đồng ủy quyền. Do vậy, việc người ủy quyền đưa cả tài sản gắn liền với đất vào Hợp đồng chuyển nhượng là vượt quá phạm vi ủy quyền.

- Ý kiến của bà Hồ Thị N: bà N và bà Nguyễn Thị Thanh T làm ăn cần vốn để kinh doanh nên bà đã mượn GCNQSDĐ của ông T, bà M để cầm cố vay tiền làm ăn. Ngày 02/8/2010, bà T đã gọi cho bà nói với vợ chồng ông T, bà M đến Văn phòng công chứng số 1, tỉnh Nghệ An để ký các giấy tờ thế chấp. Bà đã gọi cho ông T, bà M cùng đến Văn phòng công chứng số 1. Tại đây bà gặp bà H. Bà T và bà H đã vào làm việc với công chứng viên trước, sau đó mới gọi bà cùng vợ chồng ông T, bà M vào và đưa các giấy tờ cho ông T, bà M ký. Cụ thể ông T, bà M ký những giấy tờ gì thì bà không biết.

- Ý kiến của bà Nguyễn Thị Thanh T: Bà là bạn của bà N và bà H. Thông qua bà N, bà đã nhiều lần mượn Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T, bà M để thế chấp vay vốn ngân hàng. Việc bà mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T, bà M để cầm cố vay tiền của bà H thì ông T, bà M có biết. Ngày 02/8/2010, bà H có đưa tiền đến nộp tại Ngân hàng để thanh toán nợ Hợp đồng tín dụng mà bà đã vay trước đó và xóa thế chấp lấy GCNQSDĐ của ông T, bà M về. Cùng ngày 02/8/2010, bà đã nhờ bà N gọi ông T, bà M đến ký Hợp đồng ủy quyền tại Phòng công chứng số 1, tỉnh Nghệ An. Tại đây, ông T, bà M đã ký hợp đồng ủy quyền. Sau khi ký hợp đồng ủy quyền thì bà H giao số tiền còn lại cho bà. Tổng số tiền bà H vừa trả nợ ngân hàng vừa đưa cho bà vay là 1.500.000.000 đồng. Việc bà mượn GCNQSDĐ của ông T, bà M để cầm cố vay tiền của bà H thì ông T, bà M có biết. Còn nội dung cụ thể của hợp đồng ủy quyền như thế nào thì bà cũng không biết rõ.

Với nội dung trên bản án sơ thẩm số 09/2017/HC-ST ngày 09/10/2017 Tòa án nhân dân thành phố Vinh quyết định: Căn cứ Điều 28, Điều 29, điểm a khoản 2 Điều 104 Luật tố tụng hành chính năm 2010; Điều 30, Điều 157, điều 158, điểm b khoản 2 Điều 193, Điều 204, Điều 206, Điều 348 Luật tố tụng hành chính năm 2015; Căn cứ khoản 5 Điều 1 Nghị quyết số 104/2015/QH13 của Quốc Hội;

Căn cứ điều khoản 2 Điều 52, Điều 106, Điều 127 Luật đất đai năm 2003; điểm b khoản 1 Điều 99 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính Phủ; Điều 14, Điều 15 Nghị định 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 của Chính Phủ; Điều 129, 146, 198, 584, 589 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 34 Pháp lệnh án phí, lệ phớ Tũa ỏn năm 2009; Điều 48 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện, tuyên hủy toàn bộ quyết định hành chính trái pháp luật ( Quyết định số 4817 ngày 16/8/2012 về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BL 287898, số vào sổ cấp GCN: CH 13609/số 4817-QĐ UBND (2012) ngày 16/8/2012 đối với thửa đất số 14, tờ bản đồ số 09, diện tích 227,50m2 tại xóm 3, xã Nghi Phú, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An mang tên ông Nguyễn Sỹ H do Ủy ban nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An ban hành); Buộc cơ quan Nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan Nhà nước thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.

Ngày 16/11/2017 ông Nguyễn Sỹ H là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan kháng cáo trình bày: Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Vinh tuyên hủy quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Sỹ H được sử dụng thửa đất số 14, tờ bản đồ số 09, diện tích 227,05m2 đất tại xóm 3 xã Nghi Phú, Thành phố Vinh là không đúng, làm thiệt hại quyền và lợi ích hợp pháp của ông, vì: thửa đất và nhà ông được bà Võ Thị Tú Hương là người được ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị M ủy quyền chuyển nhượng đất và tài sản cho ông. Mọi thủ tục chuyển nhượng đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thừa nhận và đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Sỹ H.

Tại phiên người kháng cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Về phần thủ tục tố tụng: Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thu thập đầy đủ chứng cứ. Tại phiên toà phúc thẩm Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng hành chính. Việc tống đạt các văn bản cho các đương sự tham tố tụng thực hiện đúng quy định đảm bảo quyền lợi nghĩa vụ của đương sự. Thành phần Hội đồng xét xử đúng theo quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Về nội dung: Căn cứ vào khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính.

Đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm bác kháng cáo của ông Nguyễn Sỹ H, giữa nguyên quyết định của bản án sơ thẩm số 09/2017/HC-ST ngày 09/10/2017 Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

ơ

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên toà phúc thẩm, kết quả việc tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:

Về tố tụng: Ngày 09/10/2017, Tòa án nhân dân thành phố Vinh tuyên án vắng mặt ông Nguyễn Sỹ Hùng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Ngày 07/11/2017, ông Nguyễn Sỹ H nhận được bản án sơ thẩm. Ngày 20/11/2017, Tòa án nhân dân thành phố Vinh nhận được đơn kháng cáo của ông Nguyễn Sỹ H và ông H đã nộp tiền dự phí kháng cáo. Theo quy định tại Điều 204; khoản 1 Điều 206 Luật tố tụng hành chính, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An thụ lý giải quyết.

Ông Nguyễn Sỹ H là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã kháng cáo toàn bộ nội dung bản án sơ thẩm số 09/2017/HC-ST ngày 09/10/2017 của Tòa án nhân dân thành phố V, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy.

Về thủ tục tố tụng, Tòa án nhân dân thành phố V đã xem xét nhận định tại Bản án sơ thẩm số 09/2017/HC-ST ngày 09/10/2017 là có căn cứ đúng quy định Luật tố tụng hành chính.

Xét tính hợp pháp của Quyết định hành chính bị khiếu kiện. Hội đồng xét xử thấy rằng:

Về thẩm quyền ban hành: Ủy ban nhân dân thành phố V ban hành Quyết định số 4817 ngày 16/8/2012 về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BL 287898, số vào sổ cấp GCN: CH 13609/số 4817-QĐ UBND (2012) ngày 16/8/2012 đối với thửa đất số 14, tờ bản đồ số 09, diện tích 227,50m2 tại xóm 3, xã N, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An cho ông Nguyễn Sỹ H là đúng thẩm quyền, được quy định tại khoản 2 Điều 52 Luật đất đai năm 2003, nội dung này Tòa cấp sơ thẩm nhận định là chính xác.

Về hồ sơ và trình tự, thủ tục ban hành: Xét bộ hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cấp cho ông Nguyễn Sỹ H thấy rằng: Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự có mặt đều thừa nhận trên thửa đất số 14 tờ bản đồ số 09, tại xóm 3 xã Nghi Phú có ngôi nhà 2,5 tầng xây dựng kiên cố từ năm 2004 là của vợ chồng ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị Mi. Nhưng tại tờ khai, hợp đồng chuyển nhượng, biên bản kiểm tra hiện trạng có xác nhận của UBND xã Nghi Phú đều phản ánh tài sản trên đất là ngôi nhà cấp 4 diện tích 48m2. Như vậy, UBND xã N không tiến hành kiểm tra hiện trạng sử dụng đất, dẫn đến trên thửa đất đã có ngôi nhà 2,5 tầng xây dựng năm 2004 nhưng không xác nhận đúng thực tế tài sản gắn liền với đất, là vi phạm quy định tại điểm a, b khoản 2; điểm b khoản 3 Điều 14 Nghị định 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 của Chính Phủ.

Mặt khác, UBND xã Nghi Phú chưa tiến hành thủ tục công bố công khai kết quả kiểm tra tại trụ sở UBND xã N trong thời hạn luật định, dẫn đến người sử dụng đất là ông T, bà M không được biết đến việc ông H nộp hồ sơ cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất mà ông T, bà M được Nhà nước thừa nhận quyền sử dụng đất và trên thửa đất đang có ngôi nhà 2,5 tầng thuộc quyền sở hữu của ông T bà M đang gắn liền với diện tích đất là không đúng quy định, đã vi phạm về quy trình thủ tục ban hành GCNQSDĐ được quy định tại điểm a, b khoản 2; điểm b khoản 3 Điều 14 Nghị định 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 của Chính Phủ.

Mặt khác, tại nội dung hợp đồng ủy quyền thể hiện ông T, bà M chỉ ủy quyền cho bà H có quyền thực hiện các nhiệm vụ ủy quyền đối với đối tượng ủy quyền là quyền sử dụng đất, mà không ủy quyền tài sản gắn liền với đất. Nhưng, ngày 28/5/2012, bà H căn cứ vào hợp đồng uỷ quyền đã ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất và tài sản gắn liền với đất cho ông Nguyễn Sỹ H mà không được sự đồng ý của vợ chồng ông T, bà M là vượt quá phạm vi uỷ quyền, vi phạm quy định tại các Điều 146, 198, 584 Bộ luật dân sự năm 2005.

Từ những căn cứ trên cho thấy hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho ông Nguyễn Sỹ H không đúng theo quy định về nội dung, cũng như trình tự pháp luật quy định. UBND thành phố V ban hành Quyết định số 4817 ngày 16/8/2012 về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BL 287898, số vào sổ cấp GCN: CH 13609/số 4817-QĐ UBND ( 2012) ngày 16/8/2012 đối với thửa đất số 14, tờ bản đồ số 09, diện tích 227,50m2, tại xóm 3, xã Nghi Phú, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An cho ông Nguyễn Sỹ H đã ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị M. Do đó, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện như quyết định bản án sơ thẩm là đúng quy định pháp luật. Như vậy, Tòa cấp phúc thẩm không có căn cứ để chấp nhận nội dung kháng cáo của ông Nguyễn Sỹ H, nên giữ nguyên quyết định bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh tại phiên tòa phúc thẩm:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính;

Bác kháng cáo của ông Nguyễn Sỹ H, giữa nguyên quyết định của bản án sơ thẩm số 09/2017/HC-ST ngày 09/10/2017 Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.

Về án phí: Ông Nguyễn Sỹ H kháng cáo không được Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận nên người kháng cáo phải chịu án phí hành chính phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Các nội dung khác không kháng cáo Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính;

Bác kháng cáo của ông Nguyễn Sỹ H, giữa nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm số 09/2017/HC-ST ngày 09/10/2017 của Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Nghệ An.

Căn cứ Điều 28, Điều 29, điểm a khoản 2 Điều 104 Luật tố tụng hành chính năm 2010; Điều 30, Điều 157, điều 158, điểm b khoản 2 Điều 193, Điều 204, Điều 206, Điều 348 Luật tố tụng hành chính năm 2015; Căn cứ khoản 5 Điều 1 Nghị quyết số 104/2015/QH13 của Quốc Hội;

Căn cứ điều khoản 2 Điều 52, Điều 106, Điều 127 Luật đất đai năm 2003; điểm b khoản 1 Điều 99 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính Phủ; Điều 14, Điều 15 Nghị định 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 của Chính Phủ; Điều 129, 146, 198, 584, 589 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 1 Điều 34 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện, tuyên hủy toàn bộ Quyết định số 4817/QĐ-UBND ngày 16/8/2012 về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BL 287898, số vào sổ cấp GCN: CH 13609/số 4817-QĐ UBND ( 2012) ngày 16/8/2012 đối với thửa đất số 14, tờ bản đồ số 09, diện tích 227,50m2 tại xóm 3, xã Nghi Phú, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An mang tên ông Nguyễn Sỹ H do Ủy ban nhân dân thành phố V, tỉnh Nghệ An ban hành; Buộc cơ quan Nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan Nhà nước thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Ông Nguyễn Sỹ H phải chịu tiền án phí hành chính phúc thẩm 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nạp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0000285 ngày 24/11/2017 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố V.

Các quyết định khác của bản án hành chính sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Bản án hành chính phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ