vanban.org

Bản án 13/2018/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND TP. Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên Tuyên án 09/02/2018 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Hồ Thị Thanh S tại đơn khởi kiện ngày 16/11/2012, buộc bị đơn bà Nguyễn Thị T trả số tiền 5.

[2]Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (tức ngày 10/02/2018), nếu bị đơn chưa thanh toán xong số tiền nói trên thì phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước Việt Nam công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán. [3]… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Sương và nguyễn Thị Thủy vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? [1]Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Hồ Thị Thanh S tại đơn khởi kiện ngày 16/11/2012, buộc bị đơn bà Nguyễn Thị T trả số tiền 5.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
THÀNH PHỐ TUY HÒA
TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13 /2018/DS– ST
Ngày: 09/02/2018
V/v“Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HOÀ, TỈNH PHÚ YÊN

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Ngọc Hà.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hà Trọng Khá;

2. Bà Đào Thị Ngâm;

- Thư ký phiên toà: Bà Võ Thị Tuyết Trinh – Thư ký Toà án.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa tham gia phiên tòa: Ông Trương Đức Cảnh – Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 02 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Tuy Hoà, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 51/2017/TLST – DS ngày 28/3/2017 về “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2018/QĐXXST – DS ngày 15/01/2018 giữa các đương sự:

1/Nguyên đơn: Bà Hồ Thị Thanh S – sinh năm 1964; Trú tại: nn THĐ, phường m, thành phố T, Phú Yên. Vắng mặt.

2/Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T – sinh năm 1970; Trú tại: mm/nn NCT, phường b, thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 16/11/2012, nguyên đơn bà Hồ Thị Thanh S yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Thị T trả nợ 3.000.000đ (theo Giấy nhận nợ vay tiền ngày 27/11/2010) và tiền lãi theo lãi suất 1,125%/tháng từ ngày vay đến khi trả hết nợ. Tại biên bản giao nhận “quyết định hoãn phiên tòa” ngày 05/02/2018, nguyên đơn yêu cầu bị đơn “trả lãi theo quy định của pháp luật, sau khi có bản án lãi tính theo Bộ luật dân sự 2015”.

- Bị đơn bà Nguyễn Thị T tại biên bản hòa giải ngày 21/7/2017 đã trình bày: Tôi có vay bà S số tiền 3.000.000đ nhưng đã trả nợ cho bà S được 2.800.000đ, mỗi lần trả nợ đều ghi vào sổ tay nhỏ do nhân viên của bà S đến thu và ghi vào, sau đó nhân viên này bỏ đi mang theo chứ tôi không giữ chứng từ gì về việc trả nợ để cung cấp cho Tòa.

Tại phiên tòa:

-Nguyên đơn có yêu cầu xét xử vắng mặt ghi tại Biên bản giao nhận “quyết định hoãn phiên tòa” ngày 05/02/2018.

-Bị đơn vắng mặt.

-Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

+ Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; Đối với nguyên đơn bà Hồ Thị Thanh S có yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn không tuân thủ quy định của BLTTDS nên phải chịu hậu quả pháp lý.

+ Về nội dung vụ án: áp dụng các Điều 471, 474, 476, 478, 305 BLDS 2005, chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn trả nợ gốc cho nguyên đơn 3.000.000đ (giấy vay ngày 27/11/2010, lãi theo lãi suất 1,125%/tháng từ ngày vay tiền ngày 27/11/2010 đến ngày xét xử;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền nợ về khoản vay tài sản, đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự qui định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Tuy Hoà theo điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Nguyễn Thị T đã được Tòa triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, nguyên đơn bà Hồ Thị Thanh S vắng mặt có ghi yêu cầu giải quyết vắng mặt vào biên bản giao nhận văn bản tố tụng của Tòa án, căn cứ các Điều 227, 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự.

Về nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về nợ gốc: Theo Giấy mượn tiền ngày 27/11/2010, bà Nguyễn Thị T vay của bà Hồ Thị Thanh S số tiền 3.000.000 đồng, thỏa thuận lãi suất 6%/tháng, không hẹn ngày trả nợ nhưng thỏa thuận góp 100.000đ/ngày. Quá trình giải quyết vụ án, bà T trình bày đã góp cho bà S được 2.800.000đ, chỉ còn nợ lại 200.000đ nhưng không có chứng cứ chứng minh việc mình đã trả nợ cho bà S, do đó, yêu cầu của bà S là có căn cứ chấp nhận, hợp đồng vay giữa các đương sự được xác lập và thực hiện từ năm 2010 nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 688 BLDS 2015 và áp dụng các Điều 471, 474, 476, 478 BLDS 2005 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn trả nợ gốc 3.000.000đ (Ba triệu đồng);

Về yêu cầu tính lãi: Các bên thỏa thuận lãi 6%/tháng là vượt quá quy định tại khoản 1 Điều 476 BLDS 2005 nên chấp nhận tiền lãi bằng 150% lãi suất cơ bản 9%/năm (Theo Quyết định số 2868/QĐ-NHNN ngày 29/11/2010) = 1,125%/tháng từ ngày vay 27/11/2010 đến ngày xét xử sơ thẩm 09/02/2018 = (3.000.000 x 1,125%/tháng) x 7năm 02 tháng 13 ngày = 2.917.000đ.

Đối với yêu cầu của nguyên đơn Hồ Thị Thanh S ghi tại Biên bản giao nhận “quyết định hoãn phiên tòa” ngày 05/02/2018 nội dung “bị đơn trả lãi theo quy định của pháp luật, sau khi có bản án lãi tính theo Bộ luật dân sự 2015”, căn cứ quy định tại Điều 688 BLDS 2015, Hội đồng xét xử không áp dụng quy định tại Điều 357 BLDS 2015 mà áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 305 BLDS 2005 về trách nhiệm do chậm trả tiền của bị đơn với nội dung “Trong trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán”.

Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 BLTTDS, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227 và 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 471, 474, 476, 478, 305 Bộ luật dân sự năm 2005;

Tuyên xử:

[1]Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Hồ Thị Thanh S tại đơn khởi kiện ngày 16/11/2012, buộc bị đơn bà Nguyễn Thị T trả số tiền 5.917.000đ (Năm triệu chín trăm mười bảy nghìn đồng) (trong đó nợ gốc 3.000.000đ, tiền lãi 2.917.000đ).

[2]Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (tức ngày 10/02/2018), nếu bị đơn chưa thanh toán xong số tiền nói trên thì phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước Việt Nam công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.

[3]Về án phí: Bị đơn bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Bà Hồ Thị Thanh S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nên được hoàn lại 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng) tạm ứng án phí theo Biên lai thu tiền số 04672 ngày 22/3/2017 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

[4]Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ