vanban.org

Bản án 13/2017/HSST — Hình sự

TAND TX. Mường Lay, tỉnh Điện Biên Tuyên án 09/08/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Sìn Văn Q phạm tội: “ Mua bán trái phép chất ma túy”

Xử phạt bị cáo Sìn Văn Q 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/3/2017. Tịch thu tiêu hủy: Một phong bì niêm phong vật chứng số 390/GĐ - PC45, loại phong bì thư, mặt trước có ghi dòng chữ bằng tay “ Hoàn lại mẫu theo kết luận số 390/GĐ-PC45, ngày 03/5/2017 của phòng PC45 –Công an tỉn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Sìn Văn Q - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Sìn Văn Q phạm tội: “ Mua bán trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ MƢỜNG LAY
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Án số: 13/2017/HSST.
Ngày 09/8/2017

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MƢỜNG LAY,TỈNH ĐIỆN BIÊN

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: ông Thân Văn Hàm

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Mai Văn Tài - Phó trưởng phòng quản lý đô thị thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên.

Ông Lò Trung Kiên - Phó chủ tịch Liên đoàn lao động thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên.

- Thư ký phiên tòa: Ông Thiều Tất Lơ - thư ký Tòa án nhân dân thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện VKS thị xã Mường Lay tham gia phiên tòa: Ông Bùi Trọng Thắng - kiểm sát viên.

Hôm nay ngày 09 tháng 8 năm 2017 tại trụ sở UBND xã L.N, thị xã M.L, tỉnh Điện Biên mở phiên toà lưu động để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 13/2017/HSST ngày 07/7/2017 theo Quyết định đưa vụ xa xét xử số: 13/2007/QĐXXST-HS ngày 26/7/2017 đối với bị cáo có lý lịch sau:

Họ tên: Sìn Văn Q; Tên gọi khác: không; Sinh năm 1975

ĐKHKTT: Bản L, xã LN, thị xã ML, tỉnh ĐB.

Dân tộc: Thái; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 01/12; Tiền án: 01 (Năm 2014 bị Tòa án nhân dân thị xã ML, tỉnh ĐB tuyên phạt 30 tháng tù về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”, đến nay chưa được xóa án tích); Tiền sự: không; Con ông: Sìn Văn V, Sinh năm 1949 và Con bà: Khoàng Thị Ph, Sinh năm: 1953; Vợ: Lâm Thị Đ Sinh năm: 1976; Bị cáo bị bắt giam từ ngày 29/3/2017 hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ công an thị xã ML, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có nghĩa vụ liên quan:

Anh Vàng Văn Thắng P; Sinh năm: 1985; Trú tại: Bản Q.C, phường N L, thị xã M L, tỉnh ĐB (vắng mặt).

Anh Lò Văn X; Sinh năm: 1991; Trú tại: Bản L, xã LN, thị xã ML, tỉnh ĐB (có mặt).

Bà Lâm Thị Đ; Sinh năm: 1976; Trú tại: Bản L, xã LN, thị xã ML, tỉnh ĐB (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trưa ngày 26/3/2017, Sìn Văn Q bắt xe khách từ thành phố ĐBP, tỉnh ĐB về nhà tại bản L, xã LN, thị xã ML, tỉnh ĐB, đến bản HC, xã MP, huyện ĐB, tỉnh Điện Biên thì xuống xe tìm mua ma túy để sử dụng và bán lẻ kiếm lời. Tại đây Sìn Văn Q đã gặp một người đàn ông tên T dân tộc Khơ Mú (không rõ địa chỉ) và đã hỏi mua hêrôin với số tiền 250.000 ( hai trăm năm mười nghìn) đồng, người đàn ông tên T đồng ý rồi cầm tiền đi khoảng 20 phút sau thì quay lại đưa cho bị cáo Q 01 (một) gói nilon màu trắng bên trong là hêrôin. Nhận được hêrôin thì Sìn Văn Q lấy móng tay cấu một ít đưa lại cho T rồi gói hêrôin lại sau đó cầm ở tay phải và bắt xe khách về nhà. Khoảng 16 giờ cùng ngày, Sìn Văn Q về tới nhà và chia cục hêrôin vừa mua được thành 06 (sáu) gói nhỏ rồi gói bằng giấy bạc cất dưới gầm giường. Từ ngày 26/3/2017 đến ngày 28/3/2017, Sìn Văn Q đã sử dụng hết 04 (bốn) gói hêrôin, còn lại 02 (hai) gói hêrôin.

Khoàng 14 giờ ngày 28/3/2017, Sìn Văn Q đang mổ dê bên nhà hàng xóm thì Vàng Văn Thắng P tới nhà để hỏi mua hêrôin về sử dụng, một lúc sau Lò Văn X tới, qua trao đổi thì Lò Văn X biết Vàng Văn Thắng P mua hêrôin để sử dụng nên đã xin sử dụng cùng. Sau đó Lò Văn X đi mua 02 bơm kim tiêm và 02 lọ nước cất. Cả ba người ngồi một lúc thì Q về, P đã hỏi mua của Sìn Văn Q 02 (hai) gói hêrôin với giá 200.000 (hai trăm nghìn đồng) và Sìn Văn Q đồng ý. Sìn Văn Q cầm tiền rồi đi vào chân giường ngủ lấy 02 (hai) gói hêrôin đưa cho Vàng Văn Thắng P . Sau đó, Sìn Văn Q không nói gì đưa cho vợ là Lâm Thị Đ 200.000 (hai trăm nghìn đồng) tiền bán hêrôin mà có và tiếp tục sang nhà hàng xóm mổ dê. B về nhà, Vàng Văn Thắng P và Lò Văn X rủ nhau đi sử dụng hêrôin, đi đến bãi cát Đức Trường thuộc bản L, xã L N, thị xã ML, tỉnh Điện Biên thì bị Công an thị xã ML, tỉnh ĐB phát hiện thu giữ 02 (hai) gói hêrôin cùng 02 bơm kim tiêm và 02 lọ nước cất. Ngày 29/3/2017 Sìn Văn Q bị Công an thị xã ML bắt tạm giữ để điều tra làm rõ hành vi phạm tội.

Tại biên bản mở niêm phong xác định trọng lượng của cơ quan công an thị xã ML xác định: 02 gói hêrôin thu giữ của Vàng Văn Thắng P và Lò Văn X có trọng lượng 0,04 gam.

Tại bản kết luận giám định số: 390/GĐ - PC45 ngày 03/5/2017 của phòng KTHS công an tỉnh ĐB kết luận: Mẫu vật chứng gửi giám định là Hêrôin (hoàn lại mẫu sau giám định).

Tại bản cáo trạng số: 07 ngày 07/7/2017 của VKS nhân dân thị xã ML, tỉnh Điện Biên đã truy tố bị cáo Sìn Văn Q theo khoản 1 Điều 194 BLHS về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát thị xã ML giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân, bị cáo đã thừa nhận hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Do vậy Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 194 BLHS; điểm g khoản 1 Điều 48; khoản 2 Điều 46 BLHS. Xử phạt bị cáo Sìn Văn Q với mức án từ 30 tháng tù cho đến 36 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 194 BLHS.

Áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 41 BLHS, điểm a, c, d khoản 1,Điều 76 BLTTHS xử lý vật chứng của vụ án.

Áp dụng Điều 99 BLTTHS Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết số 326 /2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 quy định về thu, nộp án phí Tòa án bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Sìn Văn Q nhất trí với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ tội cho bị cáo.

Người có nghĩa vụ liên quan anh Vàng Văn Thắng P đã được triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do, tuy nhiên trong hồ sơ vụ án đã có lời khai quan điểm rõ ràng, việc vắng mặt tại phiên tòa hôm nay không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 191 Bộ luật tố tụng hình sự vẫn tiến hành xét xử vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã ML, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã ML, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thừa nhận: Ngày 26/3/2017 bị cáo đã mua hêrôin từ một người đàn ông tên T dân tộc Khơ Mú về sử dụng và bán lẻ kiếm lời với số tiền 250.000đ(hai trăm năm mươi nghìn đồng) được 01 gói hêrôin. Đến ngày 28/3/2017 thì bị cáo đã bán lẻ cho Vàng Văn Thắng P 02 (hai) gói nhỏ hêrôin với giá 200.000đ ( hai trăm nghìn đồng). Lời khai nhận tội của bị cáo đã phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở để kết luận bị cáo đã phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, như bản cáo trạng và kết luận của kiểm sát viên là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo biết việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Nhà nước ta đã nghiêm cấm mọi hành vi có liên quan đến ma túy đặc biệt là hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo HĐXX thấy rằng: Bị cáo Sìn Văn Q có nhân thân xấu đã bị Tòa án xét xử nhiều lần cụ thể như sau: Ngày 11/02/2000 bị Tòa án nhân dân huyện MC, tỉnh Điện Biên xử phạt 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. (đã được xóa án tích). Ngày 26/4/2008 bị Tòa án nhân dân thị xã ML, tỉnh Điện Biên xử phạt 07 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. (đã được xóa án tích). Ngày 15/4/2014 bị Tòa án nhân dân thị xã ML, tỉnh Điện Biên xử phạt 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”(chưa được xóa án tích) đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g, khoản 1 Điều 48 BLHS năm 1999. Ngày 29/3/2017 bị Công an thị xã ML bắt về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” trong vụ án này, bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo và bị cáo có mẹ đẻ là người có công với cách mạng được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất. HĐXX áp dụng tình tiết này theo quy định tại điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 BLHS, HĐXX xem xét cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Về hình phạt Hội đồng xét xử áp dụng Điều 33 BLHS năm 1999 là hình phạt tù có thời hạn để bị cáo học tập, lao động trong trại giam sau này ra trại trở thành người có ích cho gia đình và xã hội. Ngoài hình phạt chính là phạt tù thì bị cáo còn có thể bị phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 194 BLHS năm 1999, nhưng xét thấy bị cáo không có khả năng về kinh tế cho nên HĐXX không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

Xét vật chứng của vụ án: HĐXX cần Tịch thu tiêu hủy: Một phong bì niêm phong vật chứng số 390/GĐ - PC45, loại phong bì thư, mặt trước có ghi dòng chữ bằng tay “ Hoàn lại mẫu theo kết luận số 390/GĐ-PC45, ngày 03/5/2017 của phòng PC45 –Công an tỉnh Điện Biên”. Mặt sau được dán kín các mép bằng keo dán, có chữ ký của Trần Văn T, Nguyễn Thúy M và đóng hai dấu giáp lai của phòng PC45-Công an tỉnh Điện Biên. Tịch thu tiêu hủy 02 bơm tiêm chưa sử dụng, tịch thu tiêu hủy 02 lọ nước cất chưa sử dụng.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước 200.000 đ(hai trăm nghìn đồng) có được do bị cáo bán ma túy mà có.

Trong vụ án này còn có đối tượng là người bán ma túy cho bị cáo tên T ở bản HC, xã M P, huyện ĐB, tỉnh ĐB và đối tượng tên B ở xã MT, huyện MC, tỉnh Điện Biên, nhưng cơ quan điều tra đã điều tra không xác minh được đối tượng, nên HĐXX không đề cập giải quyết trong vụ án này.

Đối với Vàng Văn Thắng P và Lò Văn X có hành vi tàng trữ 0,04 gam Hêrôin do trọng lượng chưa đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự. Cơ quan điều tra đã xử phạt vi phạm hành chính đối với Vàng Văn Thắng P và Lò Văn X. Đối với Lâm Thị Đ là vợ của Sìn Văn Q do không biết việc mua bán ma túy của bị cáo, không biết nguồn gốc số tiền bị cáo đưa cho nên không có căn cứ để xử lý.

Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/ 2016 UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Sìn Văn Q phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Sìn Văn Q phạm tội: “ Mua bán trái phép chất ma túy”

2. Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm g khoản 1 Điều 48; điểm p khoản 1, 2 Điều 46; Điều 33 BLHS năm 1999.

Xử phạt bị cáo Sìn Văn Q 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/3/2017.

3. Áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 41 BLHS; điểm a, c, d khoản 2 Điều 76 BLTTHS.

Tịch thu tiêu hủy: Một phong bì niêm phong vật chứng số 390/GĐ - PC45, loại phong bì thư, mặt trước có ghi dòng chữ bằng tay “ Hoàn lại mẫu theo kết luận số 390/GĐ-PC45, ngày 03/5/2017 của phòng PC45 –Công an tỉnh ĐB”. Mặt sau được dán kín các mép bằng keo dán, có chữ ký của Trần Văn T, Nguyễn Thúy M và đóng hai dấu giáp lai của phòng PC45-Công an tỉnh ĐB, tịch thu tiêu hủy 02 bơm tiêm chưa sử dụng, tịch thu tiêu hủy 02 lọ nước cất chưa sử dụng.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước 200.000 đ(hai trăm nghìn đồng) có được do bị cáo bán ma túy mà có. ( Theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 11/7/2017 giữa Công an thị xã ML và Chi cục thi hành án thị xã ML)

4. Về án phí: Bị cáo Sìn Văn Q phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

5. Án xử công khai sơ thẩm bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ