vanban.org

Bản án 13/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Quốc Oai, TP. Hà Nội Tuyên án 07/09/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Tuyên bố bị cáo: Bùi Duy N phạm tội: Trộm cắp tài sản

2/ Áp dụng khoản 1, điều 138; Điểm h, p, khoản 1, điều 46; Điều 60 của Bộ luật hình sự; Xử phạt: Bùi Duy N 09 (Chín) tháng tù . Nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Th và đồng phạm - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố bị cáo: Bùi Duy N phạm tội: Trộm cắp tài sản
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 60 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUỐC OAI
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2017/HSST
Ngày 21/3/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỐC OAI - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trịnh Đăng Huấn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Kiều Doãn Nam và ông Nguyễn Hữu Tuấn

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huyền Lê

Kiểm sát viên tham gia phiên toà: Ông Ngô Quang Khả

Mở phiên tòa ngày 21/3/2017, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Quốc Oai , thành phố Hà Nội, để xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 09/2017/HSST ngày 24/01/2017 đối với bị cáo: BÙI DUY N, sinh năm 1985.

Đăng ký HKTT và nơi ở: Thôn 1, xã Song Phương, huyện Hoài Đức, Hà Nội.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 3/10; Con ông Bùi Duy Chung (đã chết) và bà Nguyễn Thị Tuyến sinh năm 1960; Vợ là Đỗ Thị Hoa, sinh năm 1989; Có 02 con (con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2012).

Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ từ ngày 19/11/2016 đến ngày 26/11/2016, bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện tại ngoại, có mặt. *Người bị hại: Anh Nguyễn Phùng T, sinh năm 1992.

Địa chỉ: Thôn Sài Khê, xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội. Vắng mặt

NHẬN THẤY

Bị cáo Bùi Duy N bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Quốc Oai truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 05 giờ ngày 19/11/2016, Bùi Duy N cùng với Vương Trọng Dũng sinh năm 1984, trú tại thôn 2, xã Song Phương, huyện Hoài Đức, Hà Nội, sau khi đi uống rượu ăn đêm xong rủ nhau đi tìm nhà nghỉ để ngủ. N điều khiển xe mô tô Wave BKS 33N2 - 2091 (Chiếc xe này N mượn của anh rể là Vũ Mạnh Thịnh sinh năm 1978 ở cùng thôn để làm phương tiện đi lại và chở hàng vì N làm công cho anh Thịnh tại xưởng cơ khí nhà Thịnh) chở Dũng đi đến trước cửa nhà nghỉ Nam Hiền ở thôn Sài Khê, xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, Hà Nội do anh Nguyễn Phùng T sinh năm 1992 và chị Phan Thị Hồng sinh năm 1994 ở xã Sài Sơn làm chủ.

Lúc này anh T và chị Hồng đang ngủ tại phòng 101. Thấy cửa cổng nhà nghỉ đóng, Dũng bấm chuông nhưng không có ai đi ra, nên N mở cửa cổng đi vào nhà nghỉ, N đi vào phòng lễ tân không thấy ai ở đấy, nhìn thấy phòng 101 không đóng cửa có ánh đèn ngủ chiếu hắt ra, N đi vào phòng 101 thấy vợ chồng anh T và chị Hồng đang ngủ trên giường, ở phía đầu giường có để 01 điện thoại cảm ứng màu vàng và 01 đồng hồ đeo tay quai đeo bằng da màu nâu, N nảy sinh lòng tham nên không gọi thuê phòng nữa mà nhẹ nhàng đi gần đến đầu giường lấy chiếc điện thoại và chiếc đồng hồ cho vào túi rồi nhanh chóng đi ra phòng lễ tân và đi ra ngoài cổng. Lúc này chị Hồng phát hiện có người đi từ trong phòng đi ra nên gọi anh T dậy bảo nhà có trộm. Anh T bật dậy chạy ra ngoài, còn chị Hồng hô lên “ trộm, trộm” để mọi người nghe thấy đến trợ giúp. Khi N đi nhanh ra tới cổng nhà nghỉ nghe tiếng hô trộm biết là đã bị phát hiện và sợ Dũng bị liên lụy nên N bảo Dũng chạy đi, N đi sang bên đường giấu chiếc điện thoại và chiếc đồng hồ vừa trộm cắp được vào bụi cây trước cổng nhà nghỉ. Dũng thấy N bảo chạy đi liền bỏ chạy ra phía đường cái thì bị anh T đuổi theo bắt lại được đưa quay lại nhà nghỉ.

Vợ chồng chị Mai Thị Quế sinh năm 1976 và anh Nguyễn Hữu Hùng sinh năm 1972 là chủ nhà nghỉ Phương Linh gần kề nhà nghỉ Nam Hiền đang ngủ trên tầng hai gần đường có tầm quan sát về phía trước cổng nhà nghỉ, sau khi nghe tiếng hô trộm đã nhìn thấy N từ trong nhà nghỉ Nam Hiền ra và có cất dấu vật gì ở bụi cây trước cửa nhà nghỉ, nên anh Hùng đã xuống bắt giữ N khi N đang ngồi trên xe mô tô nổ máy định bỏ chạy. Khi anh T đưa Dũng quay lại đến cổng nhà nghỉ thì thấy anh Hùng đang bắt giữ N và chị Quế đi tới bụi cây nhặt chiếc đồng hồ và chiếc điện thoại lên và chỉ vào N nói thằng này là thằng lấy trộm và cất dấu ở đấy. Nhìn thấy chiếc điện thoại và chiếc đồng hồ anh T nhận ra ngay đó là tài sản của mình thường sử dụng hàng ngày, đêm qua đi ngủ anh tháo đồng hồ và nạp điện thoại để ở đầu giường ngủ.

Sau đó anh T và chị Quế đã điện báo cho Công an xã Sài Sơn và Công an huyện Quốc Oai thông báo về sự việc. Công an huyện Quốc Oai và Công an xã Sài Sơn đã có mặt tại hiện trường tiến hành lập biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng và đưa N và Dũng về trụ sở để điều tra làm rõ.

Ngày 19/11/2016 Cơ quan CSĐT Công an huyện Quốc Oai ra Quyết định trưng cầu định giá tài sản số 01, trưng cầu định giá tài sản gồm: 01 chiếc điện thoại Iphone 6 màu vàng nhạt, số IMEI 359234068011057 (Đã qua sử dụng); 01 chiếc đồng hồ nhãn hiệu SEIKO, có dây quai màu nâu.

Theo kết luận định giá tài sản số 50/KL-HĐĐGTS ngày 24/11/2016 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Quốc Oai kết luận: Giá trị của 01 chiếc điện thoại Iphone 6 màu vàng nhạt, số IMEI: 359234068011057 có giá trị là 6.500.000 đồng ; Giá trị của 01 chiếc đồng hồ đeo tay đã qua sử dụng, làm bằng kim loại màu trắng, dây đeo màu nâu, hiệu SEIKO là 1.800.000 đồng. Tổng giá trị tài sản định giá là 8.300.000đồng.

Cáo trạng số 09/CT-VKS ngày 20/01/2017 của VKSND huyện Quốc Oai truy tố bị cáo Bùi Duy N về tội "Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1, điều 138 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà đại diện VKSND huyện Quốc Oai giữ N quyết định truy tố, đề nghị hội đông xét xử tuyên bố bị cáo Bùi Duy N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1, điều 138; điểm g, h, p khoản 1, điều 46; điều 60 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù. Nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo N cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện, chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY

Quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của người bị hại, nhân chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ do vậy có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 05 giờ ngày 19/11/2106 tại thôn Sài Khê, xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội, Bùi Duy N là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của anh Nguyễn Phùng T trong khi anh T và vợ là chị Phan Thị Hồng đang ngủ. Tài sản bị cáo chiếm đoạt được của anh T gồm: 01 chiếc điện thoại Iphone 6 và 01 chiếc đồng hồ đeo tay SEIKO với tổng giá trị là 8.300.000đồng.

Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1, điều 138 Bộ luật hình sự, như cáo trạng truy tố, có căn cứ đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, làm mất trật tự trị an xã hội gây bất bình trong quần chúng nhân dân cần phải đưa ra xử lý trước pháp luật để răn đe riêng và phòng ngừa chung.

Xét bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng; Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm h, p, khoản 1, điều 46 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xét cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng chính sách nhân đạo của Đảng, pháp luật của Nhà nước, không cần thiết phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội, mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương, cũng đủ để trở thành công dân tốt, như mức án đề nghị của Viện kiểm sát là thỏa đáng.

* Về vật chứng vụ án gồm: 01 chiếc điện thoại Iphone 6 màu vàng nhạt, số IMEI: 359234068011057 (Đã qua sử dụng); 01 chiếc đồng hồ nhãn hiệu SEIKO có dây quai màu nâu là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Phùng T. Ngày 26/11/2016 Công an huyện Quốc Oai đã quyết định trả lại toàn bộ tài sản cho anh đúng quy định của pháp luật.

01 xe mô tô Wave BKS 33N2-2091 quá trình điều tra xác minh chiếc xe trên thuộc sở hữu của anh Vũ Mạnh Thịnh là anh rể của bị cáo, cho bị cáo sử dụng để di chuyển và chở hàng cho anh Thịnh. Anh Thịnh không biết bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội, Công an huyện Quốc Oai đã trả lại tài sản cho anh Thịnh nhận lại đầy đủ không yêu cầu đề nghị gì.

* Về trách nhiệm dân sự: Ngày 26/11/2016 Công an huyện Quốc Oai đã trả lại toàn bộ tài sản trộm cắp cho anh Nguyễn Phùng T, đã nhận lại đầy đủ, không thắc mắc đề nghị yêu cầu gì, Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với Vương Trọng Dũng đi cùng với bị cáo N đến nhà nghỉ Nam Hiền, mục đích là để thuê phòng nghỉ, không biết và không có bàn bạc về việc trộm cắp tài sản. cũng không giúp sức bị cáo trong việc phạm tội, nên Cơ quan điều tra không đề trong vụ án này.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

1/ Tuyên bố bị cáo: Bùi Duy N phạm tội: Trộm cắp tài sản

2/ Áp dụng khoản 1, điều 138; Điểm h, p, khoản 1, điều 46; Điều 60 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Bùi Duy N 09 (Chín) tháng tù . Nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm

Giao bÞ c¸o Nguyªn cho chÝnh quyÒn UBND xã Song Phương, huyện Hoài Đức, thµnh phè Hµ Néi gi¸m s¸t vµ gi¸o dôc trong thêi gian thö th¸ch.

3/ ¸p dông ®iÒu 99; §iÒu 231; 234 Bé luËt tè tông h×nh sù; Điều 23 Nghị quyết số 26/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:

Xö: Bùi Duy N ph¶i chÞu 200.000 ®ång (Hai tr¨m ngh×n ®ång) tiÒn ¸n phÝ h×nh sù s¬ thÈm.

BÞ c¸o cã quyÒn kh¸ng c¸o trong h¹n 15 ngµy, kÓ tõ ngµy tuyªn ¸n; Ng êi bÞ h¹i v¾ng mÆt cã quyÒn kh¸ng c¸o trong thêi h¹n 15 ngµy, kÓ tõ ngµy nhËn ® îc b¶n ¸n hoÆc niªm yÕt b¶n ¸n./. N¬i nhËn:

Cỡ chữ