- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hoàng Thị Hồng O và Trương Văn Đ ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Hoàng Thị Hồng O được ly hôn anh Trương Văn Đ.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 129/HNGĐ - ST Ngày 29/8/2024 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa chị Oanh và anh Đức |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP – TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Quán Vi Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Lê Vinh Hương.
2. Ông Vi Văn Hậu.
Thư ký phiên toà: Bà Sầm Thị Thanh Sương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Huyền Trang – Kiểm sát viên.
Ngày tháng 08 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳ, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 63/2024/TLST – HNGĐ ngày 03 tháng 05 năm 2024 về “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản chung khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 10 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị Hồng O, sinh năm 1997.
Nơi cư trú: Thôn K, xã A, huyện L, tỉnh Yên Bái. Nơi tạm trú: Thôn V, xã V, huyện V, tỉnh Bắc Giang
(Có mặt) Bị đơn: Anh Trương Văn Đ, sinh năm 1996. Địa chỉ: Xóm M, xã M, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
(Vắng mặt tại phiên toà)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn ngày 07/02/2022, tại Bản tự khai, Biên bản lấy lời khai, Biên bản hòa giải và trong quá trình giải quyết vụ án, lời khai tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Hoàng Thị Hồng O trình bày:
Về hôn nhân: Chị Hoàng Thị Hồng O và anh Trương Văn Đ ký kết hôn ngày 07/02/2022 tại UBND xã A, huyện L, tỉnh Yên Bái. Hôn nhân do hai bên hoàn toàn tự nguyện, không bên nào bị ép buộc hoặc bị lừa dối. Trong quá trình chung sống do anh Đ chơi tài xỉu (cờ bạc ở trên mạng- chơi trên điện thoại di động) nên dẫn đến nợ nần nhiều, không có tiền nuôi sống bản thân chứ chưa nói gì để có tiền nuôi vợ con, từ đó mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng rạn nứt, không thể hòa thuận được. Chị O và anh Đ đã ly thân từ tháng 04/2023 đến nay. Khi ly thân anh, chị cũng đã cố gắng hòa giải để trở về đoàn tụ với nhau, tuy nhiên do mâu thuẫn quá trầm trọng nên anh, chị không thể trở về hàn gắn được. Chị O yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Trương Văn Đ.
Về con chung: Giữa chị và anh Trương Văn Đ có một con chung là Trương Hoàng Huyền M, sinh ngày 12/08/2021. Nếu ly hôn thì chị O có nguyện vọng nuôi con và tạm thời không anh Đ cấp dưỡng nuôi con cùng chị. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Hoàng Thị Hồng O không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn anh Trương Văn Đ mặc dù đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý, Giấy triệu tập, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng trong phiên tòa hôm nay anh Trương Văn Đ vẫn vắng mặt. Không có văn bản trình bày ý kiến của mình về nội dung đơn khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lí do chính đáng.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp tại phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi đưa vụ án ra xét xử; quá trình thu thập chứng cứ, hỏi và tranh luận tại phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự. Về việc giải quyết nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 51, 56, 81,82,83 Luật Hôn nhân và gia đình
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Đinh Thị M1. Cho chị Hoàng Thị Hồng O và anh Trương Văn T được ly hôn.
Về con chung: Đề nghị giao cháu Trương Hoàng Huyền M, sinh ngày 12/08/2021 cho chị Hoàng Thị Hồng O trực tiếp nuôi dưỡng, tạm hoãn việc cấp dưỡng đối với anh Trương Văn Đ.
Về tài sản chung: Chị Hoàng Thị Hồng O không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề nghị xem xét giải quyết.
Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội buộc chị Hoàng Thị Hồng O phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Hoàng Thị Hồng O và anh Trương Văn Đ có đăng ký kết hôn, nay chị O khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Đ và yêu cầu về giao nuôi con. Vì vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp cần giải quyết trong vụ án này được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn”, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Trương Văn Đ đăng ký hộ khẩu thường trú tại xóm M, xã M, huyện Q, tỉnh Nghệ An nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đối với bị đơn anh Trương Văn Đ trong quá trình Tòa án giải quyết vụ kiện thì anh Trương Văn Đ vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên hòa giải nên vụ án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên toà anh Trương Văn Đ tiếp tục vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do nên cần căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vụ án vắng mặt đối với anh Trương Văn Đ.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị Hồng O và anh Trương Văn Đ đăng ký kết hôn vào ngày 07/02/2022 tại UBND xã A, huyện L, tỉnh Yên Bái. Hôn nhân của chị O và anh Đ đảm bảo về điều kiện kết hôn và đúng nghi thức theo quy định của pháp luật nên là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, anh chị sống chung hòa thuận được một thời gian, rồi do tính tình không hợp nhau nên vợ chồng phát sinh mâu thuẫn.Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 4 năm 2023. Chị Hoàng Thị Hồng O làm đơn xin ly hôn, quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã hòa giải nhưng chị O không thay đổi ý kiến, chị O vẫn giữ nguyên yêu cầu đó. Xét thấy mâu thuẫn của vợ chồng thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, cần giải quyết cho chị Hoàng Thị Hồng O ly hôn anh Trương Văn Đ.
Về con chung: Chị Hoàng Thị Hồng O và anh Trương Văn Đ có một con chung Trương Hoàng Huyền M, sinh ngày 12/08/2021. Căn cứ vào nguyện vọng của đương sự, xét nguyện vọng, điều kiện của chị Hoàng Thị Hồng O có thu nhập ổn định, đủ các điều kiện để chăm sóc để nuôi con phát triển lành mạnh thể chất, trí tuệ và anh Đ vắng mặt tại phiên tòa nên cần giao con chung Trương Hoàng Huyền M cho chị Hoàng Thị Hồng O trực tiếp nuôi dưỡng, kể từ tháng 08 năm 2024 cho đến khi con đủ 18 tuổi (trưởng thành) và tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Trương Văn Đ là hợp lý.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Hoàng Thị Hồng O không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét thêm.
Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, chị Hoàng Thị Hồng O phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, Điều 56, các Điều 81,82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
Về hôn nhân: Cho chị Hoàng Thị Hồng O được ly hôn anh Trương Văn Đ.
Về con chung: Buộc anh Trương Văn Đ giao cháu Trương Hoàng Huyền M, sinh ngày 12/08/2021 cho chị Hoàng Thị Hồng O trực tiếp nuôi dưỡng, kể từ tháng 08 năm 2024 cho đến khi con đủ 18 tuổi (trưởng thành). Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con chung khi có căn cứ hoặc có lý do chính đáng có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về án phí: Chị Hoàng Thị Hồng O chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm nghìn) đồng. Được khấu trừ số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn) đồng chị O đã nộp tiền tạm ứng án phí theo biên lai số: 0006153 ngày 03 tháng 5 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An. Chị Hoàng Thị Hồng O đã nộp đủ tiền án phí. Quyền kháng cáo: Vụ án xét xử sơ thẩm công khai có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Nguyên đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án 29 /8/2024. Bị đơn được quyền kháng bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND huyện Quỳ Hợp; - Chi cục THADS huyện Quỳ Hợp; - UBND xã An Phú, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái; - Các đương sự; - Lưu HS vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Quán Vi Tuấn |