- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Nguyễn Thành T - vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Thành T. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 48/2026/HS-ST ngày 01 tháng 6 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Cần Thơ.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 129/2026/HS-PT Ngày: 12-8-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thọ
Các Thẩm phán:
Ông Võ Hoàng Khải
Ông Phạm Văn Bình
- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Anh Thư– Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hà – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 150/2026/TLPT-HS ngày 08 tháng 7 năm 2026 đối với bị cáo Nguyễn Thành T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 48/2026/HS-ST ngày 01 tháng 6 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 9 – Cần Thơ.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Thành T, sinh ngày: 15/01/1996 tại xã L, thành phố Cần Thơ; nơi cư trú: ấp C, xã L, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 11/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trung H và bà Võ Thị Thanh V; bị cáo có vợ và 02 con (người con lớn nhất sinh năm 2014; người con nhỏ nhất sinh năm 2017); tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (bị cáo có mặt).
Ngoài ra trong vụ án còn có đại diện hợp pháp của bị hại nhưng không có kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng hơn 12 giờ, ngày 13/7/2025, bị cáo Nguyễn Thành T điều khiển xe mô tô ba bánh mang biển kiểm soát 61L8-3079 lưu thông trên lộ đal ấp N, xã L, thành phố Cần Thơ theo hướng từ Tỉnh lộ 933C đi hướng Tỉnh lộ 936B, đến đoạn đường đal gần khu vực nhà bà Thạch Thị T1, T điều khiển xe vượt qua xe đạp điện do ông Lâm Văn B điều khiển lưu thông cùng chiều phía trước thì xảy ra va chạm với xe đạp điện do ông Lâm Văn B làm xe đạp điện và ông B ngã xuống lộ đal phần đường bên phải theo hướng xe ông B điều khiển. Hậu quả: ông Lâm Văn B bị thương nặng được đưa đi cấp cứu điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương thành phố C. Đến ngày 21/7/2025, ông Lâm Văn B tử vong.
Tại Bản kết luận giám định tử thi số 156/KLGĐTT-KTHS ngày 13 tháng 8 năm 2025 của Phòng K Công an thành phố C kết luận: Nạn nhân Lâm Văn B, sinh năm 1968, tử vong do xuất huyết não sau chấn thương sọ não.
Về vật chứng, Cơ quan điều tra tạm giữ, xử lý: Tạm giữ của bị cáo Nguyễn Thành T: 01 (Một) xe mô tô ba bánh biển số 61L8-3079 đã qua sử dụng; 01 (Một) giấy phép lái xe hạng A3. Tạm giữ của ông Lâm Văn B: 01 (Một) xe đạp điện màu đỏ đen đã qua sử dụng. (BL: 126-127).
Tại bản cáo trạng số 08/CT-VKSKV9 ngày 30/04/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Cần Thơ truy tố bị cáo Nguyễn Thành T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, 2024, 2025.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 48/2026/HS-ST ngày 01 tháng 6 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 9 – Cần Thơ đã quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thành T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Căn cứ: điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành T 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Ngoài ra, bản án còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 11 tháng 6 năm 2026, bị cáo Nguyễn Thành T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo giữ nguyên đối với yêu cầu kháng cáo xin được hưởng án treo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên toà phát biểu quan điểm:
Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Khi lượng hình, cấp sơ thẩm áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là đúng quy định.
Tuy nhiên xét thấy, sau khi gây tai nạn bị cáo đã trực tiếp đưa bị hại đi cấp cứu, chăm sóc và chi trả các chi phí tại bệnh viện, là người trực tiếp lo ma chay cho bị hại. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo cung cấp văn bản xác của Ủy ban nhân dân xã L Trượng về hoàn cảnh gia đình của bị cáo khó khăn. Xét bị cáo có đủ các điều kiện được hưởng án treo theo quy định, để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo xin hưởng án treo, sửa bản án sơ thẩm, giao bị cáo cho địa phương giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo, xét kháng cáo của bị cáo thực hiện đúng quy định tại các Điều 331, 332, 333 nên đủ điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo quy định.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng và bản án sơ thẩm đã tuyên. Đối chiếu lời khai của bị cáo với tài liệu chứng cứ thể hiện trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng hơn 12 giờ, ngày 13/7/2025, bị cáo Nguyễn Thành T điều khiển xe mô tô ba bánh mang biển kiểm soát 61L8-3079 lưu thông trên lộ đal ấp N, xã L, thành phố Cần Thơ, khi nhìn thấy xe đạp điện do bị hại Lâm Văn B điều khiển lưu thông cùng chiều phía trước, bị cáo điều khiển cho xe vượt lên xe của ông B thì va chạm vào xe đạp điện làm cho ông B ngã xuống lộ đal. Hậu quả ông Lâm Văn B bị thương nặng được đưa đi cấp cứu điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương thành phố C. Đến ngày 21/7/2025, ông Lâm Văn B tử vong. Theo Bản kết luận giám định tử thi số 156/KLGĐTT-KTHS ngày 13 tháng 8 năm 2025 của Phòng K Công an thành phố C kết luận: Nạn nhân Lâm Văn B, sinh năm 1968, tử vong do xuất huyết não sau chấn thương sọ não.
Hành vi của bị cáo điều khiển xe vượt xe khác cùng chiều không đảm bảo an toàn là hành vi bị nghiêm cấm được quy định tại khoản 3, điểm a khoản 6 Điều 14 Luật Trật tự an toàn giao thông đường bộ năm 2024, với hậu quả làm chết 01 người đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội danh, khung hình phạt là có căn cứ.
Xét kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo thấy rằng:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng, gây thiệt hại đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ. Tại thời điểm phạm tội, bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo biết rất rõ khi tham gia giao thông đường bộ phải tuân thủ quy định của pháp luật về giao thông đường bộ để đảm bảo tính mạng, sức khỏe, tài sản của bản thân bị cáo và của những người khác tham gia giao thông khác nhưng bị cáo đã không chấp hành đúng quy định của pháp luật nên đã gây ra tai nạn làm bị hại chết nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi đã gây ra.
Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, đã bồi thường thêm cho gia đình bị hại số tiền 15.000.000 đồng theo yêu cầu của gia đình bị hại. Bên cạnh đó, bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa từng có tiền án, tiền sự, phía gia đình bị hại có đơn không yêu cầu xử lý hình sự đối với bị cáo, đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, từ đó quyết định mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp.
Tuy nhiên xét thấy, sau khi gây tai nạn, bị cáo đã trực tiếp đưa bị hại đi cấp cứu. Trong suốt thời gian điều trị tại bệnh viện (từ ngày 13/7/2025 đến ngày 21/7/2025) do bị hại không có người thân nên bị cáo là người trực tiếp chăm sóc bị hại đồng thời ngoài số tiền bồi thường cho người thân của bị hại 15.000.000 đồng thì bị cáo là người chi trả toàn bộ chi phí điều trị tại bệnh viện cho bị hại. Sau khi bị hại chết, bị cáo cũng là người trực tiếp lo ma chay, hỏa táng và gửi tro cốt của bị hại vào chùa C.
Ngoài ra, tại cấp phúc thẩm, bị cáo còn cung cấp văn bản xác nhận của Ủy ban nhân dân xã L, nội dung xác nhận gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bản thân bị cáo làm nghề chạy xe ba gác thu nhập không ổn định, là lao động chính trong gia đình, sống chung cùng bà ngoại đã già, yếu (sinh năm 1943), bị cáo có 02 con còn nhỏ và đang đi học.
Từ các căn cứ trên, xét thấy bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 1 Điều 51 và có thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng đủ điều kiện được hưởng án treo theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 03/VBHN-TANDTC ngày 10/7/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Đồng thời để thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật, khuyến khích việc bồi thường, khắc phục hậu quả sau khi phạm tội cũng như thiện chí chăm sóc, cứu chữa cho bị hại, Hội đồng xét xử thống nhất quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, áp dụng thêm Điều 65 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo và để bị cáo được cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo thành công dân tốt. Việc sửa bản án sơ thẩm không phải lỗi của cấp sơ thẩm.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không đề cập xem xét có hiệu lực pháp luật.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Thành T. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 48/2026/HS-ST ngày 01 tháng 6 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Cần Thơ.
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thành T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Căn cứ: điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành T 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã L, thành phố Cần Thơ giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 87 Luật thi hành án hình sự.
“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.
3. Án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức án phí, lệ phí Toà án.
Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vụ GĐ, KT I; - VKSND TP Cần Thơ; - TAND; VKSND; P. THADS KV9-Cần Thơ; - CQCSĐT – CA TP Cần Thơ; - CQTHAHS – CA TP Cần Thơ; - PHSNV – CA TP Cần Thơ; - Bị cáo; - UBND xã Lịch Hội Thượng; - Lưu hồ sơ vụ án. CÁC THẨM PHÁN Võ Thái Sơn Phan Lê Vũ Huy H1 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thọ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn B1 |