- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Xuân T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN THÀNH PHỐ HÀ NỘI ------------ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 129/2025/HS-ST Ngày: 24/06/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Thạch Thị Hằng
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Lâm
Ông Bùi Văn Bình
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng – Thư ký Toà án nhân dân quận Long Biên.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Long Biên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Hương – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 06 năm 2025, tại điểm cầu Trụ sở Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội và điểm cầu Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 114/2025/HSST ngày 11 tháng 06 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 120/2025/QĐXXST - HS ngày 12 tháng 06 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Xuân T; sinh ngày 20/02/1987 tại Thanh Hóa; tên gọi khác: Không; Hộ khẩu thường trú: X, Y, Z; Chỗ ở: X, Y, Z; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới Th: Nam; Tôn giáo: Không; Văn hóa: 7/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Xuân T; Con bà: Hoàng Thị S; Gia đình bị cáo có 04 anh em, bị cáo là con thứ ba; Vợ: Phạm Hải V; có 03 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2016.
Tiền án, tiền sự: 01 tiền án.
- Bản án số 56/2007/HSST ngày 25/05/2007, Tóa án nhân dân quận 12, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 07 tháng tù giam về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Buộc bị cáo Nguyễn Xuân T phải nộp 3.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước, 200.000 đồng thu lời bất chính sung quỹ Nhà nước và 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Ngày 08/07/2007 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù. Xác minh việc thi hành án dân sự của T, Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12 phúc đáp: Không có thông tin về việc thi hành án dân sự của Nguyễn Xuân T phải thi hành theo Bản án số 56/2007/HSST ngày 25/05/2007 của Tòa án nhân dân Quận 12, thành phố Hồ Chí Minh. (chưa được xóa án tích)
Bị cáo bị bắt quả tang và bị tạm giữ từ ngày 12/01/2025, tạm giam từ ngày 18/01/2025 đến nay tại Trại giam số 2 – Công an thành phố Hà Nội. (Có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Phạm Hải V, sinh năm 1986; Địa chỉ: X, Y, Z (Xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 20 phút, ngày 12/01/2025, tổ công tác Công an phường Việt Hưng, quận Long Biên, thành phố Hà Nội làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát tại ngã tư Đoàn Khuê, Đào Văn Tập, phường Việt Hưng, quận Long Biên, thành phố Hà Nội phát hiện 01 nam thanh niên có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, tổ công tác phát hiện trong lòng bàn tay trái của nam thanh niên có 01 (một) vỏ bao thuốc lá Thăng Long bên trong có 01 (một) túi ni lông chứa chất bột màu trắng. Tại chỗ, đối tượng khai nhận tên là Nguyễn Xuân T, 01 túi ni lông bên trong vỏ bao thuốc lá Thăng Long có chứa chất bột màu trắng là ma túy Heroine T mua về để sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản thu giữ tang vật và đưa T về trụ sở để làm rõ.
Tang vật thu giữ gồm:
- 01 (một) túi ni lông bên trong có chứa chất bột màu trắng.
- 01 (một) vỏ bao thuốc lá màu vàng nhãn hiệu Thăng Long.
- 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave BKS: 29K1-804.24.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VSmart màu xanh đã qua sử dụng.
Quá trình kiểm tra, tạm giữ Nguyễn Xuân T có ông Hồ Phạm Th (sinh năm: 1960, hộ khẩu thường trú: X, Y, Z) là người chứng kiến.
Tại Kết luận giám định số 837/KL-KTHS ngày 21/01/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 túi ni lông là ma túy loại Heroin, khối lượng 3,00 gam.
Tại cơ quan công an Nguyễn Xuân T khai nhận: Do bản thân nghiện ma túy nên khoảng 12 giờ 30 phút ngày 12/01/2025, T sử dụng điện thoại số thuê bao 0386516913 gọi điện đến số điện thoại 0587421142 (số điện thoại này T xin của một người không quen biết ở quán nước vỉa hè) cho một người đàn ông không quen biết để hỏi mua 1.000.000 đồng (một triệu đồng) ma túy heroin mục đích sử dụng cho bản thân. Người này đồng ý hẹn T đến đường Sài Đồng thuộc phường Phúc Lợi, quận Long Biên, Hà Nội để giao ma túy. Tại đây T gặp một người nam giới lạ mặt, T hỏi mua ma túy heroin với giá 1.000.000 đồng (một triệu đồng), người nam giới đồng ý, T đưa 1.000.000 đồng (một triệu đồng) cho người nam giới và người này để ma túy heroin cạnh một cây trên đường Sài Đồng sau đó anh ta bảo T ra lấy, sau khi lấy được ma túy heroin để trong 01 vỏ bao thuốc Thăng Long, T cầm trong lòng bàn tay trái của mình rồi lái xe máy đi về nhà. Khi đi đến ngã tư đèn xanh đèn đỏ đường Đoàn Khuê giao Đào Văn Tập, phường Việt Hưng, Long Biên, Hà Nội thì bị lực lượng công an đến kiểm tra. Tại chỗ, T khai nhận đó là ma túy heroin T mua mục đích sử dụng cho bản thân. Lực lượng công an đã lập biên bản thu giữ tang vật và đưa T về trụ sở làm rõ.
Lời khai của Nguyễn Xuân T phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác mà cơ quan điều tra đã thu thập được.
Ngày 17/01/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Long Biên đã ra Lệnh thu giữ thư T, điện T số 89 đối với thuê bao 0587421142. Ngày 12/02/2025, Công ty CP viễn thông di động Vietnammobile đã có công văn cung cấp thông tin: Họ tên chủ thuê bao số 0587421142 là Bùi Văn S, sinh ngày 12/02/1985, trú tại X, Y, Z.
Tại cơ quan điều tra anh S khai: Năm 2018 anh Bùi Văn S làm dịch vụ bán sim thẻ điện thoại nên đã lấy thông tin cá nhân của mình để đăng ký chủ thuê bao sim điện thoại có số 0587421142 sau đó bán cho khách hàng. Anh S không biết đã bán sim số điện thoại trên cho ai, không biết do ai sử dụng và hiện tại số sim này còn hoạt động hay không. Bị cáo không biết tên tuổi, địa chỉ người bán ma túy. Do đó cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra làm rõ.
Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave BKS: 29K1-804.24, quá trình điều tra xác định: Chủ xe là chị Phạm Hải V (sinh năm 1986, địa chỉ: X, Y, Z). Chị V khai mua chiếc xe máy trên vào khoảng tháng 3/2019 với giá 23.000.000đ (Hai mươi ba triệu đồng) và đứng tên đăng ký chính chủ chiếc xe dùng làm phương tiện đi lại. Sau khi mua xe máy trên chị đưa cho chồng là Nguyễn Xuân T mượn để chở hàng thuê. Việc anh T sử dụng xe máy của chị để đi mua ma túy chị không hề biết. Chị đề nghị được xem xét giải quyết cho xin lại chiếc xe máy để làm phương tiện đi lại.
Đối với 2,78 gam ma túy heroin (khối lượng ban đầu là 3,00 gam, Phòng PC09 thu mẫu 0,22 gam); 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave BKS: 29K1-804.24; 01 (một) vỏ bao thuốc lá màu vàng nhãn hiệu Thăng Long; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VSmart màu xanh đã qua sử dụng là vật chứng vụ án. Chuyển Tòa án xem xét, giải quyết.
Tại bản cáo trạng số 106/CT-VKSLB ngày 10/06/2025, Viện Kiểm sát nhân dân quận Long Biên đã truy tố Nguyễn Xuân T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Xuân T đã khai nhận toàn bộ hành vi của bị cáo theo đúng như nội dung đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận tại phiên tòa: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa, có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo Nguyễn Xuân T đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về nhân thân: Bản án số 56/2007/HSST ngày 25/05/2007, Tóa án nhân dân quận 12, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 07 tháng tù giam về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Buộc bị cáo Nguyễn Xuân T phải nộp 3.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước, 200.000 đồng thu lời bất chính sung quỹ Nhà nước và 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Ngày 08/07/2007 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù. Xác minh việc thi hành án dân sự của T, Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12 phúc đáp: Không có thông tin về việc thi hành án dân sự của Nguyễn Xuân T phải thi hành theo Bản án số 56/2007/HSST ngày 25/05/2007 của Tòa án nhân dân Quận 12, thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, áp dụng nguyên tắc có lợi cho bị cáo và xác định bị cáo đã được xóa án tích.
Về tình tiết tăng nặng TNHS: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Về hình phạt:
- Đề nghị xử phạt bị cáo T từ 24 tháng đến 30 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp thu nhập ổn định nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- Đề nghị cho tịch thu, tiêu hủy 2,78 gam Heroin (khối lượng ban đầu: 3,00 gam Heroin, PC09 đã thu mẫu 0,22 gam Heroin) và 01 (một) vỏ bao thuốc lá màu vàng nhãn hiệu Thăng Long.
- Đề nghị cho tịch thu, sung công quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động VSmart màu xanh, đã qua sử dụng do là phương tiện phạm tội.
- Đề nghị cho thi hành trả lại chị Phạm Hải V 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave BKS: 29K1-804.24, đã qua sử dụng.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Nói lời sau cùng, bị cáo biết là sai, vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Long Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo và người tham gia tố tụng khác đã khai báo và xuất trình các tài liệu chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu, kết luận giám định, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Hồi 14 giờ 20 phút, ngày 12/01/2025, tại ngã tư Đoàn Khuê, Đào Văn Tập, phường Việt Hưng, quận Long Biên, thành phố Hà Nội, bị cáo Nguyễn Xuân T có hành vi tàng trữ trái phép 3,00 gam ma túy Heroin mục đích sử dụng cho bản thân, nhưng chưa kịp sử dụng thì bị tổ công tác Công an phường Việt Hưng, quận Long Biên, thành phố Hà Nội phát hiện bắt quả tang cùng tang vật. Hành vi của bị cáo Nguyễn Xuân T đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội danh và hình phạt theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã cố ý xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước, gây mất trật tự trị an xã hội, gây ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng và là nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác. Bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có đủ khả năng nhận thức, điều khiển hành vi nên phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi gây nguy hiểm cho xã hội do bị cáo gây ra.
Về tình tiết tăng nặng: Bản án số 56/2007/HSST ngày 25/05/2007, Tóa án nhân dân quận 12, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 07 tháng tù giam về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Buộc bị cáo Nguyễn Xuân T phải nộp 3.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước, 200.000 đồng thu lời bất chính sung quỹ Nhà nước và 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Ngày 08/07/2007 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù. Xác minh việc thi hành án dân sự của T, Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12 phúc đáp: Không có thông tin về việc thi hành án dân sự của Nguyễn Xuân T phải thi hành theo Bản án số 56/2007/HSST ngày 25/5/2007 của Tòa án nhân dân Quận 12, thành phố Hồ Chí Minh. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không xuất trình được tài liệu chứng cứ chứng minh bị cáo đã chấp hành xong nghĩa vụ khác và án phí. Theo quy định tại Điều 70 của Bộ luật Hình sự năm 2015 về các điều kiện đương nhiên được xóa án tích, trong đó có điều kiện: người bị kết án nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách của án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án. Như vậy, Bộ luật Hình sự không loại trừ việc người bị kết án chưa chấp hành xong hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án với bất kỳ lý do gì. Do đó xác định bị cáo không đương nhiên được xóa án tích và lần phạm tội này của bị cáo là tái phạm và bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm h (tái phạm) khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo nên Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Căn cứ theo tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện, nhân thân của bị cáo, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ TNHS, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- Cho tịch thu, tiêu hủy 2,78 gam Heroin (khối lượng ban đầu: 3,00 gam Heroin, PC09 đã thu mẫu 0,22 gam Heroin) và 01 (một) vỏ bao thuốc lá màu vàng nhãn hiệu Thăng Long.
- Cho tịch thu, sung công quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động VSmart màu xanh, đã qua sử dụng do là phương tiện phạm tội.
- Cho thi hành trả lại chị Phạm Hải V 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave BKS: 29K1-804.24, đã qua sử dụng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Long Biên đề nghị áp dụng hình phạt tù là hình phạt chính, không áp dụng hình phạt bổ sung, về xử lý vật chứng là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, về việc xác định tiền án của bị cáo đã được xóa án tích và không có tình tiết tăng nặng TNHS là không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo và người tham gia tố tụng khác được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Về hình phạt:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h (tái phạm) khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Xuân T 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù Th từ ngày 12/01/2025.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Cho tịch thu, tiêu hủy 2,78 gam Heroin (khối lượng ban đầu: 3,00 gam Heroin, PC09 đã thu mẫu 0,22 gam Heroin) và 01 (một) vỏ bao thuốc lá màu vàng nhãn hiệu Thăng Long.
- Cho tịch thu, sung công quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động VSmart màu xanh, đã qua sử dụng.
- Cho thi hành trả lại chị Phạm Hải V 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave BKS: 29K1-804.24, đã qua sử dụng.
(Hiện toàn bộ tang vật đang được lữu giữ tại kho của Chi cục thi hành án dân sự quận Long Biên theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/06/2025)
3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2006 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Án xử công khai sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo về những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hợp lệ hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
| Nơi nhận: - TAND T.p Hà Nội; - VKSND T.p Hà Nội; - Sở Tư pháp T.p Hà Nội; - VKSND quận Long Biên; - Chi cục THADS quận Long Biên; - PV06 – Công an T.p Hà Nội; - Thi hành án hình sự; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng khác; - Lưu HS, VP. Hội thẩm nhân dân | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Thạch Thị Hằng HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |