- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T bị truy tố về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” quy định điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố Nguyễn Văn T phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 256a Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:129/2025/HS-ST Ngày 26-12-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Xuân Thường
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Thanh
Ông Nguyễn Văn Thuận
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12 - Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 -Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 136/2025/TLST-HS, ngày 12 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 142/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2025, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T, sinh ngày 10/11/1986 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: ấp V, xã N, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B (đã chết) và bà Võ Thị Ú (đã chết); bị cáo có vợ Trần Cẩm T1 và 02 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2012, tiền án: không;
Tiền sự: Ngày 14/3/2024, bị Toà án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa
- Vũng Tàu (nay là Toà án nhân dân khu vực 14 - Thành phố Hồ Chí Minh) quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 16 tháng theo Quyết định số 05/2024/QĐ-TA.
Bị bắt tạm giam từ ngày 20/10/2025. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại Ngãi Giao cơ sở 1, Trại tạm giam số 1- Công an Thành phố H (bị cáo có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn T là đối tượng thuộc diện quản lý sau cai nghiện ma túy của Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là xã N, Thành phố Hồ Chí Minh) theo Quyết định số: 119/QĐ-UBND ngày 17/04/2025 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là Ủy ban nhân dân xã N, Thành phố Hồ Chí Minh), thời hạn quản lý sau cai đến ngày 01/4/2027. Tuy nhiên trong thời gian quản lý sau cai Nguyễn Văn T tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy cụ thể như sau:
Vào khoảng 19 giờ, ngày 20/8/2025, T đến một quán nhậu không tên thuộc phường T, Thành phố Hồ Chí Minh để ăn uống cùng với bạn làm chung. Khi ra về Tươi thấy “H” (không rõ nhân thân lai lịch) là bạn bè ngoài xã hội của Tươi quen biết trước đây điều khiển xe mô tô chạy ngang qua quán nhậu. Thấy T nên H quay xe lại nói chuyện và rủ T sử dụng ma túy đá, T đồng ý. Sau đó, H điều khiển xe mô tô Dream (không rõ biển kiểm soát) chở T đến khu vực lô cao su thuộc khu phố A, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại đây, H lấy bộ dụng cụ sử dụng có ma túy mang theo gồm: chai nhựa loại chai Sting, nắp chai màu đỏ có gắn nỏ thủy tinh chứa sẵn ma túy đá bên trong và ống hút màu xanh do H mang theo, dùng quẹt gas hơ và đốt ma tuý rồi hút trước một hơi và cầm bộ dụng cụ có ma túy đưa cho T để T tự đốt hút một hơi thì hết ma tuý. Sau đó, H chở T về nhà của T còn H quay xe đi. Đến tối ngày 22/8/2025, H đến nhà T chở T đi tìm kiếm chỗ mua ma túy để tiếp tục sử dụng, trên đường đi cả hai gặp tổ tuần tra của Công an xã K đang tuần tra. Khi thấy Công an, H điều khiển xe bỏ chạy, T bị Cơ quan Công an kiểm tra và test phát hiện có chất ma túy trong cơ thể nên yêu cầu về trụ sở Cơ quan Công an làm việc, đồng thời tiến hành thu mẫu nước tiểu của Nguyễn Văn T để xử lý theo quy định.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn T khai nhận toàn bộ hành vi như trên (BL 72-92).
Tại Bản Kết luận giám định số: 4654/KL-KTHS ngày 31/8/2025 của Phòng K, Công an thành phố H kết luận (BL 34): Một phong bì trắng được niêm phong, có hình dấu của Công xã K1 - Công an thành phố H, cùng các chữ ký ghi họ tên Võ Lê G, Trần Tố N, Nguyễn Đình H1, Phạm Quang M, bên trong có 01 ống nhựa có nắp màu đỏ chứa nước tiểu (ký hiệu mẫu M): Tìm thấy Methamphetamine trong mẫu nước tiểu được ký hiệu M gửi giám định. H2 lại đối tượng giám định gồm: Mẫu vật đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
Vật chứng thu giữ và xử lý:
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y02, màu tím, Số IMEIL: 869949061349385, có gắn thẻ sim số: 0974210235 đã được Cơ quan CSĐT Công an thành phố H chuyển đến Phòng Thi hành án dân sự khu vực 12 lưu giữ, chờ xử lý.
* Cáo trạng số 45/CT-VKS-KV12, ngày 11/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Thành phố Hồ Chí Minh truy tố Nguyễn Văn T về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” quy định điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
* Luận tội của Kiểm sát viên
Giữ nguyên nội dung cáo trạng truy tố bị cáo và đề nghị:
Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại cho Nguyễn Văn T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, màu tím (không mở được máy không xác định được imei, không rõ tình trạng bên trong máy).
* Lời khai của bị cáo tại phiên tòa: Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng Viện kiểm sát truy tố và không có ý kiến bào chữa. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Về tội danh, điều luật áp dụng
Qua tranh tụng tại phiên tòa, đã xác định được:
Nguyễn Văn T là đối tượng thuộc diện quản lý sau cai nghiện ma tuý Theo Quyết định số 119/QĐ-UBND ngày 17/04/2025 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là xã N, Thành phố Hồ Chí Minh). Ngày 20/8/2025, T tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, qua giám định tìm thấy Methamphetamine trong mẫu nước tiểu của T.
Từ hành vi trên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo T về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự, an toàn tại địa phương. Bị cáo biết rõ việc sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì ham muốn của bản thân bị cáo bấp chấp pháp luật, cố ý thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy trong thời hạn quản lý sau cai nghiện. Do đó đối với bị cáo cần phải xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
- Tình tiết tăng nặng: Không.
- Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung
Bị cáo là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy, không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên miễn áp dụng phạt tiền là hình phạt bổ sung.
Về xử lý vật chứng
Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, màu tím do không liên quan đến hành vi phạm tội.
Về án phí hình sự sơ thẩm
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Đối với người đàn ông tên H đã có hành vi cung cấp ma tuý, dụng cụ cho bị cáo và cùng bị cáo sử dụng trái phép chất ma tuý, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên chưa có cơ sở để xử lý theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố Nguyễn Văn T phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a, điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/10/2025.
2. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, màu tím (không mở được máy không xác định được Imei, không rõ tình trạng bên trong máy).
Toàn bộ vật chứng trên hiện Phòng Thi hành án dân sự khu vực 12 - Thành phố Hồ Chí Minh đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 39/BB-THADS (12), ngày 18/12/2025.
3. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
4. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND TP. Hồ Chí Minh; - VKSND TP. Hồ Chí Minh; - PV 06, PC 10 - CA TP. Hồ Chí Minh ; - VKSNDKV 12-TP. Hồ Chí Minh; - Phòng THADSKV12; - Bị cáo; - Lưu HS vụ án. Nguyễn Thị Kim Thanh Nguyễn Văn Thuận | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Xuân Thường THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Xuân Thường |