- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Nguyễn Thành Đ và Trần Phú Tr phạm tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo NGUYỄN THÀNH Đ và TRẦN PHÚ TR phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”;
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự - Tịch thu tiêu hủy; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 129/2023/HSST Ngày: 10 – 11- 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Thúy
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Duy Phương
Ông Lâm Cường Thịnh
-Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Vi – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Chiều – Kiểm sát viên.
Trong ngày 10 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 125/2023/HSST ngày 13 tháng 10 năm 2023, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 130/2023/HSST-QĐ ngày 23/10/2023 đối với các bị cáo:
1. NGUYỄN THÀNH Đ, sinh năm 1986; tại tỉnh Bình Phước; Tên gọi khác: Đen; nơi cư trú: khu phố 1, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Không; giới tính: Nam; trình độ văn hóa: 0/12 (Nhưng biết chữ, đọc được, viết được); Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Thành T, sinh năm 1965 và con bà Huỳnh Thị Thu H, sinh năm 1962; vợ, con: Không; Tiền án; tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/6/2023 đến nay.
2. TRẦN PHÚ TR, sinh năm 1994; tại tỉnh Long An; Tên gọi khác: Không; HKTT: Xã T, huyện X, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; nơi tạm trú: Khu phố 10, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước; chổ ở: Khu phố 1, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Sửa xe; giới tính: Nam; trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Tuấn K, sinh năm 1976 và con bà Lê Thị Tuyết N, sinh năm 1974; vợ: Nguyễn Thị Ánh T, sinh năm 1998; có 02 người con: Trần Ngọc Lan A, sinh năm 2015; Trần Ngọc Linh Đ, sinh năm 2022; Tiền án; tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/6/2023 đến nay.
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
NGUYỄN THÀNH Đ và TRẦN PHÚ TR là đối tượng sử dụng trái phép chất ma tuý từ đầu năm 2023 đến nay. Thông qua một số người nghiện ma tuý ở khu vực phường Thành Tâm, thị xã Chơn Thành, Được biết một đối tượng tên Minh sử dụng số điện thoại 0389.809.205 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) là người bán ma tuý đá nên đã cùng Trọng liên lạc với Minh để mua ma tuý về sử dụng.
Khoảng tháng 3/2023, Được ở phòng 2A quen biết Trọng ở phòng 1A ở cùng dãy nhà trọ Mỹ Hồng thuộc tổ 3, khu phố 1, phường Hưng Long, thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước. Qua nói chuyện Được biết Trọng cũng sử dụng ma tuý đá nên cả hai cùng bàn bạc, hùn tiền mua ma tuý về sử dụng thì Trọng đồng ý. Được cho Trọng số điện thoại của Minh để Trọng liên lạc Minh mua ma tuý khi cần. Mỗi lần Được và Trọng hùn tiền mua ma tuý là 300.000 đồng, Được bỏ 200.000 đồng, còn Trọng hùn 100.000 đồng.
Cách thức mua ma tuý như sau: Khi có nhu cầu sử dụng ma tuý, Được gọi điện và chuyển tiền mua ma tuý qua tài khoản điện tử ví MoMo của Trọng có tên TRẦN PHÚ TR (số điện thoại đăng ký là 0963.836.771). Chuyển tiền xong, Trọng liên lạc với Minh và đi mua ma tuý (thông thường Minh hẹn đến khu vực cầu vượt ở phường Thành Tâm để mua bán). Đến điểm hẹn, Trọng gọi cho Minh thông báo đã đến, khoảng 10 – 15 phút sau, Minh điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) đến. Lúc này Trọng trả tiền mua ma tuý cho Minh, Minh cầm tiền rồi chỉ vị trí bỏ ma tuý để Trọng đến lấy (gói ma tuý thường bỏ trong khẩu trang hoặc trong bịch nylon để dưới đất gần vị trí của Minh). Mua được ma tuý, Trọng đem về cho Được đem cất giữ tại phòng 2A để cả hai cùng sử dụng, nếu chưa sử dụng hết một lần thì Được cất giữ gói ma tuý tại phòng để sử dụng cho những lần tiếp theo.
Với cách thức trên, khoảng 14 giờ ngày 29/6/2023, do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên Được gọi điện cho Trọng để mua ma tuý về sử dụng chung nhưng Trọng không nghe máy. Khoảng 05 phút sau, Trọng dùng tài khoản Zalo của Trọng là “trọng 1” gọi cho Được qua tài khoản Zalo tên “NGUYỄN THÀNH Đ” thì Được nói trọng đi mua 300.000 đồng để mua ma tuý về sử dụng nhưng Trọng bận làm nên hẹn để đến chiều. Khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, Trọng gọi được cho Minh mua ma tuý thì Trọng gọi điện cho Được nói được chuyển 300.000 đồng qua MoMo để Trọng đi mua ma tuý thì Được đồng ý. Lúc này tài khoản của Được không đủ tiền nên Được chuyển 290.000 đồng qua tài khoản của Trọng. Chuyển tiền xong, Trọng đi rút trong tài khoản 300.000 đồng tiền mặt rồi gọi cho Minh mua ma tuý. Minh hẹn Trọng đến cầu vượt phường Thành Tâm, thị xã Chơn Thành để mua bán. Trao đổi xong, Trọng điều khiển xe mô tô biển số 77H7-2534 đến điểm hẹn rồi gọi điện thông báo cho Minh. Khoảng 10 đến 15 phút sau, Minh điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) đến. Trọng trả cho Minh 300.000 đồng, Minh cầm tiền và chỉ chổ để ma tuý dưới lề đường. Trọng đến chỗ Minh chỉ thấy co bịch nylon bên trong có chứa 01 (một) gói ma tuý, Trọng cầm bịch nylon treo trên xe rồi điều khiển xe về nhà trọ Mỹ Hồng. Khi chưa về đến nhà, sợ vợ phát hiện nên Trọng lấy gói ma tuý ra bỏ vào bao thuốc lá Jet rồi đến phòng 2A giao cho Được. Khi vào phòng, Trọng đưa vỏ bao thuốc lá Jet bên trong có gói ma tuý cho Được thì Được lấy gói ma tuý ra ma tuý ra, còn vỏ bao thuốc lá trả lại cho Trọng rồi Trọng đi về phòng tắm. Lúc này Được lấy gói ma tuý vừa mua đổ một ít vào nỏ thuỷ tinh của bộ dụng cụ để sử dụng. Sau khi tắm xong, Trọng qua phía trước phòng Được, lấy ma tuý hít được 1-2 hơi thì hết, Trọng đưa lại dụng cụ cho Được và Trọng về phòng. Số ma tuý còn lại Được cất giữ tại tủ quần áo trong phòng để sử dụng những lần tiếp theo.
Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, lực lượng Công an đến kiểm tra hành chính, phát hiện tại phòng của Được trong phòng tắm có một bộ dụng cụ trái phép chất ma tuý. Kết quả xét nghiệm chất ma tuý trong cơ thể ngày 29/6/2023 đối với NGUYỄN THÀNH Đ là dương tính với chất ma tuý trong cơ thể. Kết quả xét nghiệm chất ma tuý trong cơ thể ngày 30/6/2023 đối với TRẦN PHÚ TR là dương tính với chất ma tuý trong cơ thể. Cơ quan CSĐT tiến hành khám xét khẩn cấp và tiến hành khám xét tại phòng 2A của Được ở phát hiện: Tại ngăn tủ sắt đựng quần áo của Được có 01 gói nylon khoá miết, kích thước (1,7x2,0)cm, bên trong có chứa tinh thể màu trắng, dạng rắn và 01 quyẹt ga đã sử dụng. Cơ quan CSĐT đã thu giữ và niêm phong để điều tra.
Tại Cơ quan CSĐT, Được và Trọng đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên (Bút lục số 01, 75-78, 79-92, 95-107, 124-156).
Kết luận giám định số 733/Kl-KTHS ngày 05/7/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước, kết luận: Tinh thể màu trắng có trong 01 gói nylon khoá miết được niêm phong gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,1760 gam (Không phẩy một bảy sáu không gam). (Bút lục số 70-74).
Vật chứng vụ án: - 01 (Một) phong bì có dấu niêm phong của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước bên trong có chứa 0,0998 gam Methamphetamine (Mẫu vật hoàn lại sau giám định).
- 01 (Một) ĐTDĐ hiệu Samsung Galaxy A21s màu đen, có sim số 0339.296.941 (thu giữ của Được) và 01 ĐTDĐ hiệu OPPO Reno 7Z 5G màu xanh, màn hình cảm ứng, có sim số 0963.836.771 (thu giữ của Trọng). Đây là phương tiện Được và Trọng sử dụng liên lạc để mua ma tuý.
- 01 (Một) bộ dụng cụ sử dụng trái phép chất ma tuý gồm: 01 chai nước hiệu Lucky Star, trên nắp đục 02 lỗ tròn, 01 lỗ gắn ống hút nhựa màu trắng, 01 lỗ gắn nỏ thuỷ tinh, đầu phễu bị bể và 01 hộp quyẹt ga đã qua sử dụng. Đề nghị tịch thu, tiêu huỷ.
- 01 (Một) xe mô tô biển số 77H7-2534, số khung: HC09E-650423, số máy: 09036Y-504209 là phương tiện mà Trọng sử dụng để đi mua ma tuý. Xe đứng tên Nguyễn Thị Diệu Thuý, sinh năm 1977, cư trú: Khu phố Phương Thái, thị trấn Cát Tiến, huyện phù Cát, tỉnh Bình Định (Chỗ ở: Tổ 5, khu phố 7, phường Thới An, quận 12, thành phố Hồ Chí Minh). Năm 2019, chị Thuý bán lại cho chị Nguyễn Thị Ánh Trúc, sinh năm 1998 (là vợ của Trọng). Năm 2020, chị Trúc và Trọng về ở với nhau tại khu phố 1, phường Hưng Long, thị xã Chơn Thành, Trọng lấy xe để đi làm nghề vá vỏ xe. Việc Trọng sử dụng xe để đi mua ma tuý thì chị Trúc không biết. Xét đây là tài sản chung của vợ chồng chị Trúc, có nguồn gốc hợp pháp nên không tạm giữ và xử lý.
Bản cáo trạng số 130/CTr-VKS, ngày 13/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước đã truy tố các bị cáo NGUYỄN THÀNH Đ, TRẦN PHÚ TR về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 17, điểm s khoản 1,2 Điều 51; Điều 50, 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt các bị cáo mức án từ 18 tháng đến 24 tháng tù.
Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước đã truy tố và không có ý kiến gì khác.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức hành vi của mình sai trái và rất hối hận. Bị cáo kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai tại cơ quan Điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án cũng như qua phần xét hỏi, tranh luận công khai tại phiên tòa Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
NGUYỄN THÀNH Đ và TRẦN PHÚ TR sống cùng dãy trọ nên quen biết nhau. Khoảng tháng 3/2023 qua nói chuyện Được biết Trọng cũng sử dụng ma túy nên Được đã bàn bạc, hùn tiền với Trọng để mua ma túy về sử dụng thì Trọng đồng ý. Mỗi lần Được và Trọng mua 300.000đ tiền ma túy trong đó Được bỏ ra 200.000đ còn Trọng bỏ ra 100.000đ để mua ma túy của đối tượng tên Minh (không rõ nhân thân, lai lịch) về sử dụng. Với cách thức như trên khoảng 18 giờ 30 phút ngày 29/6/2023 do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Được gọi điện cho Trọng để mua 300.000đ ma túy về sử dụng chung. Trọng gọi điện cho Minh để mua ma túy và Minh hẹn đến cầu vượt phường Thành Tâm, thị xã Chơn Thành để giao nhận ma túy và tiền. Sau khi mua được ma túy thì Trọng đưa về phòng trọ của Được và cả hai sử dụng chung, số ma túy còn lại Được cất giữ trong tủ quần áo để sử dụng cho những lần sau. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày thì bị Công an kiểm tra hành chính phát hiện bắt giữ. Hành vi cất dấu ma túy để nhằm mục đích sử dụng của NGUYỄN THÀNH Đ và TRẦN PHÚ TR đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do đó có đủ cơ sở kết luận Cáo trạng số 130/CTr-VKS, ngày 13/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước truy tố các bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước đối với chất ma tuý, là nguyên nhân dẫn đến nhiều tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác, gây mất an ninh trật tự địa phương, vi phạm trật tự quản lý hành chính của Nhà nước, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý. Các Bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi nên phải chịu trách nhiệm hình sự.
Ngoài ra, do vụ án có đồng phạm với tính chất giản đơn nên cần phân tích đánh giá vai trò của từng bị cáo:
Xét thấy, 02 bị cáo Được và Trọng cùng thực hiện một tội phạm, cùng góp tiền để mua ma túy sử dụng và tàng trữ ma túy để sử dụng. Được góp tiền nhiều hơn nhưng Trọng là người trực tiếp mua ma túy. Nên có vai trò thực hiện hành vi phạm tội như nhau và cả hai bị cáo đều phạm tội lần đầu, chưa có tiền án tiền sự nên phải chịu mức hình phạt tương đương nhau.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bị cáo Trọng là lao động chính trong gia đình có 02 con còn nhỏ;
Tuy nhiên, xét thấy thời gian tạm giam chưa đủ có tác dụng giáo dục các bị cáo nên cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục các bị cáo cũng như phòng ngừa chung.
Về xử lý vật chứng:
- 01 (Một) phong bì có dấu niêm phong của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước bên trong có chứa 0,0998 gam Methamphetamine (Mẫu vật hoàn lại sau giám định) nên cần tịch thu, tiêu huỷ.
- 01 (Một) ĐTDĐ hiệu Samsung Galaxy A21s màu đen, có sim số 0339.296.941 (thu giữ của Được) và 01 ĐTDĐ hiệu OPPO Reno 7Z 5G màu xanh, màn hình cảm ứng, có sim số 0963.836.771 (thu giữ của Trọng). Đây là phương tiện Được và Trọng sử dụng liên lạc để mua ma tuý nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
- 01 (Một) bộ dụng cụ sử dụng trái phép chất ma tuý gồm: 01 chai nước hiệu Lucky Star, trên nắp đục 02 lỗ tròn, 01 lỗ gắn ống hút nhựa màu trắng, 01 lỗ gắn nỏ thuỷ tinh, đầu phễu bị bể và 01 hộp quyẹt ga đã qua sử dụng nên cần tịch thu, tiêu huỷ.
Đối với đối tượng tên Minh: Theo lời khai của bị can Trọng và Được thì đối tượng Minh đã nhiều lần bán ma tuý tuý cho Được và Trọng để sử dụng. Tuy nhiên, quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch của Minh. Mặt khác, kết quả tả cứu số điện thoại 0389.809.205 mà Được và Trọng liên lạc với Minh để mua ma tuý vào ngày 29/6/2023 được Tập Đoàn viễn thông Quân đội Viettel – Chi nhánh thị xã Chơn Thành xác định Nguyễn Thanh Duân, sinh năm 1986, nơi cư trú: Nguyễn Thượng Hiền, thị trấn Vân Đình, huyện Ứng Hoà, thành phố Hà Nội đứng tên sở hữu. Qua xác minh, Duân không có mặt tại địa phương nên Cơ quan điều tra chưa làm việc được. Đề nghị Cơ quan CSĐT tiếp tục xác minh, làm rõ để xử lý theo quy định.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo Trọng làm nghề sửa xe, bị cáo Được không có nghề nghiệp ổn định, cả hai bị cáo cũng đang ở trọ chưa có chổ ở ổn định nên không có căn cứ để áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Án phí hình sự sơ thẩm các bị cáo phải chịu theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, 50, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự hiện hành.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo NGUYỄN THÀNH Đ và TRẦN PHÚ TR phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”;
2. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo NGUYỄN THÀNH Đ 01( một) năm 06( sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/6/2023.
Xử phạt bị cáo TRẦN PHÚ TR 01( một) năm 06( sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/6/2023.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) phong bì có dấu niêm phong của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước bên trong có chứa 0,0998 gam Methamphetamine (Mẫu vật hoàn lại sau giám định); 01 (Một) bộ dụng cụ sử dụng trái phép chất ma tuý gồm: 01 chai nước hiệu Lucky Star, trên nắp đục 02 lỗ tròn, 01 lỗ gắn ống hút nhựa màu trắng, 01 lỗ gắn nỏ thuỷ tinh, đầu phễu bị bể và 01 hộp quyẹt ga.
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước:
01 (Một) ĐTDĐ hiệu Samsung Galaxy A21s màu đen, có sim số 0339.296.941 (thu giữ của Được);
01 ĐTDĐ hiệu OPPO Reno 7Z 5G màu xanh, màn hình cảm ứng, có sim số 0963.836.771 (thu giữ của Trọng).
4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Án phí hình sự sơ thẩm mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.
5. Quyền kháng cáo: các Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Phước - VKSND tỉnh Bình Phước - VKSND thị xã Chơn Thành; - CCTHADS thị xã Chơn Thành; - CA thị xã Chơn Thành; - UBND nơi cư trú của bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đã ký Dương Thị Thúy |