vanban.org

Bản án 129/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 18/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Quang Nh - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 251 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. VŨNG TÀU
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 129/2023/HS-ST
Ngày 18-5-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Song Hoàn

Ông Hà Văn Trường

- Th ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Quỳnh – Th ký của Tòa án nhân dân thành phố VT, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố VT, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Cúc - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 5 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố VT, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 106/2023/HSST ngày 10 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 142/2023/QĐXXST- HS ngày 04 tháng 5 năm 2023, đối với bị cáo:

Huỳnh Quang Nh, sinh năm 1998 tại Bà Rịa – Vũng Tàu; Hộ khẩu Thờng trú: khu phố ThB, thị trấn ĐĐ, huyện ĐĐ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Quốc K (sinh năm 1971) và bà Đỗ Thị Kim B (sinh năm 1974); Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt ngày 15-12-2022. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố VT, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Huỳnh Quang Nh và Trần Văn H có mối quan hệ bạn bè từ tháng 8/2022, cả hai đều là đối tượng nghiện ma túy. Vào tối ngày 10/12/2022, H nhắn tin cho Huỳnh Quang Nh qua ứng dụng Messenger có tài khoản tên “Quang Nh” để hỏi mua hộp 10 ma túy tổng hợp dạng khay (Ketamine), Nh báo giá 5.000.000 đồng, H chốt lấy và hẹn Nh giao tới tiệm xăm của H ở số 31 HHTh, Ph3, thành phố VT, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Sau đó, Nh liên hệ qua mạng xã hội” Telegram” cho một thanh niên tên “ Nh” (không rõ nhân thân, lai lịch) ở Quận 8, thành phố Hồ Chí Minh để mua số ma túy theo yêu cầu của H với giá 4.000.000 đồng. Đến sáng ngày 11/12/2022, Nh quấn băng keo kín hộp 10 ma túy khay rồi mang tới điểm hẹn giao cho H nhưng H không có ở tiệm nên Nh cầm tới nhà bạn của Nh là Phạm Thành Tr (sinh năm 1991; HKTT: ĐC, Phường B, thành phố VT, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) ở số ĐC, Phường B, thành phố VT, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và dặn Tr sẽ có người đến gặp Tr lấy gói đồ. Đến tối ngày 11/12/2022, Nh gọi điện thoại cho Đồng H Hải (sinh năm 2005; HKTT: Thôn TH, xã HL, huyện HL, tỉnh Thanh Hóa) qua ứng dụng Messenger nhờ Hải đến đầu hẻm 123 Lý Tự Trọng, Phường B, thành phố VT gặp bạn của Nh để lấy gói đồ mang về tiệm xăm cho H và Hải đồng ý. Sau đó, Nh nói với H về việc nhờ Hải lấy ma túy cất ở tiệm xăm của H. Đến ngày 12/12/2022, H về tiệm, thấy hộp ma túy nên đã gọi Nh qua để trả tiền mua ma túy. Sau khi nhận tiền của H, Nh về nhà của Nh tại huyện ĐĐ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Khoảng 00 giờ 40 phút ngày 15/12/2022, khi Nh đang ngồi chơi tại tiệm xăm của H thì Đội CSĐT tội phạm Ma túy phối hợp Công an Phường B, thành phố VT tiến hành kiểm tra hành chính, phát hiện Nh, H và Nguyễn H Anh Th (bạn gái của H) dương tính với chất ma tuý.

Quá trình điều tra, H khai nhận: H mua ma túy của Nh để về sử dụng cho bản thân. Khi bị cơ quan Công an kiểm tra, H đã sử dụng hết số ma túy mua của Nh.

Nguyễn H Anh Th khai nhận trước khi đến tiệm xăm của H, Th đã sử dụng ma túy tại quán Bluemoon số đường ND, Phường M, thành phố VT, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Th không nhớ chính xác thời gian, nhân thân, lai lịch của những người bạn chơi tại quán Bar này.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố VT, Huỳnh Quang Nh đã khai nhận trước khi giao ma túy đến tiệm xăm của H ngày 11/12/2022, Nh đã lấy một ít ma túy từ gói ma túy đem giao cho H và đã sử dụng hết cho bản thân. Lời khai của Nh phù hợp với chứng cứ thu thập được, phù hợp với lời khai của người liên quan là Trần Văn H, Phạm Thành Tr, Đồng H Hải và Nguyễn H Anh Th (các bút lục điều tra từ số 81 đến số 109).

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

* Cơ quan chức năng tiến hành thu giữ vật chứng:

- 01 điện thoại hiệu Nokia C31 màu xanh, Imei: 355361470508984(đã qua sử dụng);

* Vật chứng trên được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP Vũng Tàu chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố VT quản lý, chờ xử lý.

Tại Cáo trạng số 93/CT-VKS ngày 04-4-2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố VT truy tố Huỳnh Quang Nh về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo Khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố VT giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về trách nhiệm Hình sự: Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 02 (Hai) năm tù đến 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

- Về xử lý vật chứng: Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Nokia C31 này xanh siis Imel: 355361470508984.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Lời nói sau cùng, bị cáo hối hận về hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ một phần hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong vụ án này đều hợp pháp.

Về tội danh và điều luật áp dụng:

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đủ căn cứ để kết luận:

Ngày 10-12-2023, Trần Văn H liên lạc với Huỳnh Quang Nh hỏi mua ma túy, loại Ketamine với số tiền 5.000.000 đồng để sử dụng, Nh hẹn ngày 11-12-2023 sẽ giao tới tiệm xăm H ở số 31 HHTh, Ph3, thành phố VT, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Sáng 11-12-2023, sau khi mua ma túy đem đến giao cho H. Do không gặp được H nên Nh đã gửi gói ma túy tại nhà của Phạm Thành Tr ở số ĐC, Phường B, thành phố VT và dặn Tr sẽ có người tới lấy. Đến tối ngày 11-12-2023, Nh liên lạc với Đồng H Hải nhờ Hải đến gặp Tr lấy giúp gói đồ (ma túy) đem đến tiệm xăm giao cho H. Khi Tr nhận giữ gói đồ cho Nh và Hải giao giúp gói đồ cho H không biết bên trong gói đồ có chứa ma túy.

Ngày 15-12-2022, cơ quan công an kiểm tra hành chính tại tiệm xăm của H không thu được ma túy, H đã sử dụng hết số ma túy mua của Nh. Đây là lần đầu Nh bán ma túy cho H và chưa bán ma túy cho người khác.

Như vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự đúng như Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố VT.

Tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra:

Hành vi bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình chính trị, xã hội tại địa phương. Khi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó, cần có một hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện để có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm cho bị cáo một phần hình phạt khi lượng hình.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 (Một) chiếc điện thoại hiệu Nokia C31 màu xanh, số Imei: 355361470508984 (đã qua sử dụng) của bị cáo, bị cáo sử dụng vào việc liên hệ mua và bán ma túy nên tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.

Về vấn đề khác:

Đối với Đồng H Hải có hành vi lấy giúp Nh gói ma túy đem về cho Trần Văn H nhưng Hải không biết gói đồ bên trong là vật gì do Nh đã dán băng keo kín nên không có căn cứ để xử lý đối với Hải là phù hợp.

Đối với Phạm Thành Tr có hành vi nhận giữ giúp Nh gói ma túy và giao lại cho Hải nhưng Tr hoàn toàn không biết trong gói đồ có chứa ma túy. Khi gửi đồ, bản thân Nh cũng không nói cho Tr biết việc bên trong gói đồ chứa ma túy nên không có căn cứ để xử lý đối với Tr là phù hợp.

Đối với người đàn ông tên Nhân không rõ nhân thân lai lịch là người bán ma túy cho Nh, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP VT tiếp tục xác minh để xử lý theo quy định pháp luật là có căn cứ.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

́

QUYÊT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 251; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016,

1. Tuyên bố : Bị cáo Huỳnh Quang Nh phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Quang Nh 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15 tháng 12 năm 2022.

2. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Nokia C31 này xanh siis Imel: 355361470508984.

(Vật chứng đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố VT theo Biên bản giao nhận vật chứng số 178/ BB.CCTHA ngày 14 tháng 4 năm 2023).

3. Án phí Hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng).

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ