vanban.org

Bản án 129/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Cà Mau, tỉnh Cà Mau Tuyên án 18/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "các bị cáo H, N, V mua bán trái phép ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 129/2023/HS-ST
Ngày 18 – 7– 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên tòa: Bà Phan Thị Thu

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trịnh Anh Minh

Ông Trương Công Minh

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Xuân Thùy Dương – Cán bộ Toà án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Trương Hoàng Lo – Kiểm sát viên

Ngày 18 tháng 7 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm đặt tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau và điểm cầu thành phần đặt tại Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Cà Mau, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 124/2023/TLST-HS ngày 15 tháng 6 năm 2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 117/2023/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 6 năm 2023, đối với các bị cáo:

1. Bị cáo thứ nhất, họ và tên: Nguyễn Nhật H, giới tính: Nam, sinh ngày 27/5/2003 tại Cà Mau; Nơi cư trú: Ấp T.A, xã K.Đ, huyện Đ, tỉnh Cà Mau; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh, tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Chạy xe Grab; trình độ học vấn: 9/12; Con ông: Nguyễn Văn U và bà Lâm Ngọc B; Vợ, con: Chưa có; Tiền án; tiền sự: Không. Bị bắt khẩn cấp, tạm giữ hình sự từ ngày 05/11/2022, chuyển tạm giam từ ngày 14/11/2022, đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Cà Mau.

2. Bị cáo thứ hai, họ và tên: Phạm Hoàng N, giới tính: Nam, sinh ngày 13/5/2005 tại Cà Mau; Nơi cư trú: Ấp L.C, xã Th, huyện C, tỉnh Cà Mau; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 10/12; Con ông Phạm Văn M và bà Nguyễn Thị Cẩm B; Vợ, con: Chưa có; Tiền án; tiền sự: Không. Bị tạm giữ hình sự ngày 05/11/2022, chuyển tạm giam ngày 14/11/2022, đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Cà Mau.

3. Bị cáo thứ ba, họ và tên: Dư Chí V, giới tính: Nam, sinh ngày 16/11/2005 tại Cà Mau; Nơi cư trú: Ấp S, xã Th, huyện C, tỉnh Cà Mau; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không nghề nghiệp; trình độ học vấn: 9/12; Con ông Dư Thành Q và bà Đỗ Thị Kim L; Vợ, con: Chưa có; Tiền án; tiền sự: Không. Bị bắt khẩn cấp, tạm giữ hình sự từ ngày 05/11/2022, chuyển tạm giam từ ngày 14/11/2022, đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Cà Mau.

Các bị cáo có mặt tại điểm cầu Trung tâm.

- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Phạm Hoàng N; Ông Phạm văn M, sinh năm: 1982 và bà Nguyễn Thị Cẩm B, sinh năm: 1986. Cùng địa chỉ: ấp L.C, xã Th, huyện C, tỉnh Cà Mau. Là cha mẹ của bị cáo. (có mặt tại điểm cầu Trung tâm).

- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Dư Chí V: Ông Dư Thành Q, sinh năm: 1982 (vắng mặt) và bà Đỗ Thị Kim L, sinh năm: 1984 (có mặt tại điểm cầu Trung tâm). Cùng địa chỉ: ấp S, xã Th, huyện C, tỉnh Cà Mau. Là cha mẹ của bị cáo.

- Người bào chữa cho bị cáo Phạm Hoàng N: Ông Trần Dân Q, là luật sư ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Cà Mau. (có mặt tại điểm cầu thành phần)

- Người bào chữa cho bị cáo Dư Chí V: Ông Đoàn Quốc Nh là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Cà Mau. (có mặt tại điểm cầu thành phần).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 04/11/2022, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Cà Mau kết hợp với Công an xã Lý Văn Lâm, thành phố Cà Mau tuần tra phát hiện Phạm Hoàng N tại trạm xe khách Y.H, thuộc ấp Bu, xã L, thành phố C, bị cáo N cầm trên tay 01 túi nilon màu đen định lên xe rời đi thì bị lực lượng, kiểm tra phát hiện bên trong túi nilon màu đen có dòng chữ “THANK YOU have A Nice Day With You”, dán băng keo, ghi chữ “My Cmau 0824148 830”, bên trong có 01 bọc nilon màu trắng chứa 01 quần Jeans ống dài, trong túi quần jean phía trước bên phải có 01 bọc nilon màu trắng, bên trong chứa 20 viên nén màu xám, trong túi quần Jeans phía trước bên trái có 01 bọc nilon màu trắng, chứa tinh thể màu trắng. Lực lượng tiến hành niêm phong theo quy định 02 bọc nilon màu trắng vừa thu được, ký hiệu M.32/2022 và thu giữ đồ vật khác gồm: 01 túi nilon màu đen có ghi chữ “My Ca Mau 0824148830”; 01 bọc nilon màu trắng (trong suốt); 01 quần Jeans ống dài (đã qua sử dụng); 01 điện thoại Nokia màu đen, loại bàn phím có gắn sim số 0824148830 đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu vàng đồng, đã qua sử dụng, có gắn sim số 0375.815.710 và 01 xe mô tô biển kiểm soát 69F1-629.34.

Cùng thời điểm vào lúc 22 giờ 40 phút ngày 04/11/202 , Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Cà Mau tiến hành bắt khẩn cấp đối với các bị cáo Nguyễn Nhật H và Dư Chí V, tiến hành khám xét chỗ ở của các bị cáo N, H và V tại phòng trọ số 01 của dãy nhà trọ tọa lạc tại số 118, đường No, khóm 5, phường M, thành phố C, phát hiện bị cáo H đang cầm trên tay 01 bọc nilon màu đen, bên trong có hộp giấy màu trắng, trong hộp có 01 bọc nilon màu trắng chứa 06 viên nén màu xám, 01 viên ném màu xanh và 01 bọc nilon màu trắng bên trong có chứa tinh thể màu trắng. Lực lượng tiến hành thu giữ 02 bọc nilon chứa 06 viên nén màu xám, 01 viên ném màu xanh và tinh thể màu trắng đưa vào phong bì hình chữ nhật niêm phong theo quy định, ký hiệu M.33/2022 và thu giữ đồ vật gồm: 01 bọc nilon màu đen, 01 hộp giấy màu trắng, 01 cân tiểu ly màu đen – trắng và 01 điện thoại Iphone màu xanh dương, sim số 0947.882446. Tạm giữ đồ vật của Dư Chí V gồm: 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu xám, gắn sim số 0815.161817; 01 xe mô tô hiệu Suzuki viva màu xanh đen, biển kiểm soát số 69F4.8316.

Quá trình điều tra, các bị cáo thống nhất khai nhận: Khoảng 05 giờ 00 ngày 04/11/2022, tên T ở quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo H do quen biết khi còn chạy xe công nghệ tại Thành phố Hồ Chí Minh (không biết họ và địa chỉ cụ thể) dùng số điện thoại 0704902136 gọi vào số điện thoại 0824148830 của bị cáo H thông báo cho H việc đã gửi đồ tức là ma túy cho H bằng xe Y.H và kêu H chuyển 1.000.000đ, H sử dụng ứng dụng trên điện thoại chuyển vào tài khoản của Tuấn số 1015402313 mở tại Ngân hàng TMCP C. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, H kêu N và V ở cùng phòng trọ đến trạm xe Y.H nhận đồ nhưng N và V đều hiểu là đi lấy ma túy, nhưng xe chưa về đến trạm, N và V quay về. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, N lấy xe mô tô chạy đến trạm xe Y.H nhận ma túy cho đến khoảng 21 giờ cùng ngày N chưa về phòng trọ nên H lấy ma túy, cân tiểu ly để trong phòng mang ra ngoài cùng V định đi bán ma túy nhưng chưa kịp đi thì bị bắt.

Số ma túy Công an thu trên người của H là do H mua của T gửi từ Thành phố Hồ Chí Minh về cho H vào những ngày trước đó, H bán chưa hết. T đã gửi cho H 03 lần (lần thứ nhất khoảng đầu tháng 10/2022, gửi xe Y.H, H trực tiếp đến trạm xe Y.H nhận; lần thứ hai ngày 01/11/2022, lần này do H và N trực tiếp đến trạm xe Y.H nhận; lần thứ ba ngày 04/11/2022, N đi đến trạm xe Yến Hùng nhận thì bị bắt). Từ trước đến nay H chuyển vào tài khoản của Tuấn 03 lần với số tiền 21.000.000đ. Gồm ngày 02/11/2022 chuyển 15.000.000đ; ngày 03/11/2022 chuyển 5.000.000đ và lần cuối cùng ngày 04/11/2022 chuyển 1.000.000đ. Bị cáo H thu lợi từ việc bán ma túy khoảng 8.000.000đ.

Thời gian H, N và V ở cùng phòng trọ cùng nhau bán ma túy, khi nhận được ma túy do người tên T gửi thì H phân chia nhỏ, khi có người hỏi mua ma túy thì liên hệ với H và chuyển tiền mua ma túy cho H. Sau đó H đưa điện thoại Nokia màu đen có sim số 0824.148.830 và số điện thoại của người mua ma túy cho N và V để liên hệ địa điểm giao ma túy cho người mua. V giao ma túy cho người mua 05 lần, trong đó N đi giao ma túy cùng với V 03 lần, cụ thể:

- Lần thứ nhất, khoảng ngày 01/11/2022, V cùng N đi đến cổng chào phường, thành phố C giao cho Tạ Bảo B, 01 bịch ma túy khây và 03-04 nút (thuốc lắc);

- Lần thứ hai, V đi một mình giao ma túy cho Tạ Bảo Bảo tại cổng chào phường T, thành phố C, giao 01 bịch ma túy khây;

- Lần thứ ba, khoảng 03 giờ ngày 02/11/2022, V cùng N đi đến cổng Minh Thắng, gần Mường Thanh, phường 9, thành phố C giao cho người tên Đ 01 bịch ma túy khây;

- Lần thứ tư, ngày 02/11/2022, V cùng N đi đến hẻm đối diện công viên Hùng Vương, phường 5, thành phố C, giao cho người có số điện thoại 0818.803.815, 01 bịch ma túy khây và 02 nút (thuốc lắc);

- Lần thứ năm, V giao ma túy ở gần khách sạn Best C, phường 9, thành phố C.

Mỗi lần N và V đi giao ma túy xong thì H trả cho mỗi người từ 100.000đ đến 200.000đ. Ngoài ra, H khai nhận, ngày 04/11/2022, người tên Thoại có số điện thoại 0842227232 điện thoại cho H mua ma túy, H giao 02 chấm ma túy khây với giá 1.000.000đ cho Th. Sau đó, khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, Đ có số điện thoại 0886.222.214 gọi cho H mua ma túy 01 bịch ma túy khây và 02 chấm với giá 1.000.000đ thì H chờ N đem ma túy về để giao nhưng N chưa về, thì bị bắt và N khai nhận đi giao ma túy khoảng 08 lần, không nhớ đã giao cho ai, địa chỉ ở đâu.

Tại Kết luận giám định số 347/KL-KTHS ngày 08 tháng 11 năm 2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau kết luận:

- 20 (hai mươi) viên nén màu xám bên trong bọc nilon màu trắng được niêm phong kín trong phong bị hình chữ nhật, ký hiệu M32/2022 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 8,0063gam, loại MDMA.

- Tinh thể màu trắng bên trong bọc nilon màu trắng, được niêm phong kín trong phong bì hình chữ nhật ký hiệu M32/2022 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 38,2704gam, loại Ketamine.

- 06 (sáu) viên nén màu xám bên trong bọc nilon màu trắng được niêm phong kín trong phong bì hình chữ nhật, ký hiệu M33/2022 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 2,4741gam, loại MDMA.

- 01 (một) viên nén màu xanh bên trong bọc nilon màu trắng được niêm phong kín trong phong bì hình chữ nhật, ký hiệu M33/2022 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,3467gam, loại MDMA.

- Tinh thể màu trắng bên trong bọc nilon màu trắng, được niêm phong kín trong phong bì hình chữ nhật ký hiệu M33/2022 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2426gam, loại Ketamine.

Tại cáo trạng số: 127/CT-VKS ngày 14/6/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau đã truy tố các bị cáo Nguyễn Nhật H, Phạm Hoàng N và Dư Chí V về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, c, p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên toàn bộ nội dung cáo trạng đã truy tố đối với các bị cáo Nguyễn Nhật H, Phạm Hoàng N và Dư Chí V. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, c, p khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự tuyên bố các bị cáo Nguyễn Nhật H, Phạm Hoàng N và Dư Chí V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Nhật H từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù; xử phạt bị cáo Phạm Hoàng N từ 06 năm 06 tháng đến 07 năm tù; xử phạt bị cáo Dư Chí V từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù.

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy ma túy kèm bao gói hoàn lại sau giám định và 01 quần jean ống dài. Tịch thu, phát mãi sung quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu đen loại bàn phím đã qua sử dụng, có gắn sim số 0824 148 830 của bị cáo Nguyễn Nhật H, 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng đồng, đã qua sử dụng, có gắn sim số 0375815710 của Phạm Hoàng N và 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu xám, đã qua sử dụng, có gắn sim số 0815161817 của Dư Chí V. Buộc bị cáo H nộp 8.000.000đ, buộc bị cáo N nộp 300.000đ, buộc bị cáo V nộp 500.000đ tiền thu lợi bất chính.

- Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Xin giảm nhẹ hình phạt

- Người bào chữa bị cáo N và bị cáo V thống nhất với đề nghị Viện kiểm sát về tội danh. Xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo N và V so với đề nghị của Viện kiểm sát. Người bào chữa cho bị cáo V đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo V vì đã thành khẩn khai báo góp phần tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện hoặc điều tra tội phạm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã có hành vi, quyết định tố tụng đúng quy định.

[2] Tại phiên tòa, lời khai các bị cáo Nguyễn Nhật H, Phạm Hoàng N và Dư Chí V, phù hợp với lời khai của các bị cáo có trong hồ sơ vụ án phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản bắt người trong trường hợp khẩn cấp và biên bản khám xét cũng như lời khai của người làm chứng và các chứng cứ khác thể hiện, vào lúc khoảng 19 giờ 30 phút ngày 04/11/2022, tại ấp B, xã L, thành phố C, Phạm Hoàng N đang cầm trên tay chất ma túy gồm 8,0063gam loại MDMA và 38,2704gam loại Ketamine và tại nơi ở của các bị cáo Nguyễn Nhật H, Phạm Hoàng N và Dư Chí V, phòng số 01 của nhà trọ tọa lạc tại số 118, đường N, khóm 5, phường 1, thành phố C, bắt quả tang Nguyễn Nhật H đang cầm trên tay chất ma túy gồm 2,8208gam loại MDMA và 0,2426gam loại Ketamine, nhằm mục đích để các bị cáo Nguyễn Nhật H cùng Phạm Hoàng N và Dư Chí V bán cho nhiều người khác, thu lợi. Tổng chất ma túy mỗi loại các bị cáo dùng để bán khi bị bắt quả tang thu được 10,8271 gam loại MDMA và 38,513gam loại Ketamine. Quá trình thực hiện hành vi, bị cáo Phạm Hoàng N đã bán cho người mua 03 lần, thu lợi số tiền 300.000đ. Bị cáo Dư Chí V bán cho người mua khoảng 05 lần, thu lợi số tiền 500.000đ, Nguyễn Nhật H thu lợi được số tiền khoảng 8.000.000đ.

Các bị cáo thực hiện hành vi trong khi các bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, có đủ căn cứ khẳng định hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b, c, p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015.

Hành vi của bị cáo mua bán ma túy với khối lượng lớn, rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý nhà nước về các chất ma tuý, góp phần gây ra các tệ nạn xã hội, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện cũng là để răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng xem xét đến thái độ của bị cáo từ khi bị bắt và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo. Bị cáo H có ông cố được Nhà nước tặng Huy chương kháng chiến hạng Nhì. Bị cáo N có ông nội được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhì. Bị cáo V có ông nội được Nhà nước tặng Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, hạng Nhì và hạng Ba nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo N và bị cáo V trên 16 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi, áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự quy định về mức hình phạt cao nhất được áp dụng đối với bị cáo N và bị cáo V, không quy định mức hình phạt thấp nhất có thể áp dụng cho bị cáo V và N. Các bị cáo N và V không được áp dụng tình tiết hạ khung hình phạt nên mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo N và V là chưa phù hợp. Trong vụ án này các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mang tính đồng phạm giản đơn, bị cáo H giữ vai trò chủ động, khi thực hiện hành vi, bị cáo H là người trên 18 tuổi nên cần áp dụng mức hình phạt cao hơn các bị cáo còn lại như Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.

Bị cáo V đã được áp dụng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo. Các bị cáo bị bắt quả tang khi thực hiện hành vi nên việc bị cáo V thành khẩn khai báo không thuộc trường hợp tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện hoặc điều tra tội phạm thuộc trường hợp quy định điểm t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự như đề nghị của Người bào chữa cho bị cáo V.

Quá trình thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy, bị cáo H thu lợi 8.000.000đ, bị cáo V thu lợi được 500.000đ, bị cáo N thu lợi 300.000đ đây là tiền thu lợi bất chính, có được từ hành vi phạm tội, cần truy thu sung quỹ nhà nước.

[3] Về tang vật của vụ án đang do Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Cà Mau quản lý theo biên bản ngày 28/6/2023:

+ 01 phong bì được niêm phong ký hiệu số 347/KL-KTHS ngày 08/11/2022, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau chứa chất ma túy hoàn lại sau khi giám định là chất cấm lưu hành. Cần tịch thu tiêu hủy.

+ 01 túi nylon màu đen, trên túi nylon có dòng chữ “THANK YOU have A Nice Day With You” và có dán băng keo, có ghi chữ “My Ca Mau 0824148830”; 01 bọc nylon màu trắng trong suốt; 01 quần Jeans ống dài (đã qua sử dụng); 01 bọc nylon màu đen; 01 hộp giấy màu trắng; 01 cân tiểu ly màu đen trắng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

+ 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen loại bàn phím đã qua sử dụng, có gắn sim số 0824 148 830 của H; 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng đồng, đã qua sử dụng, có gắn sim số 0375815710 của N và 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu xám, đã qua sử dụng, có gắn sim số 0815161817 của V. Các bị cáo dùng vào việc liên hệ để mua bán ma túy nên cần tịch thu, sung quỹ nhà nước.

Đối với 01 xe mô tô hiệu Suzuki Viva màu xanh đen, biển kiểm soát số 69F4.8316 của ông Trung cho chị cáo V mượn; 01 xe mô tô biển kiểm soát 69F1-629.34 của bà B cho bị cáo H và 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu xanh dương gắn sim số 0947.882.446 của bị cáo H. Qua điều tra xác định H và V, sử dụng xe vào việc mua bán ma túy, ông Tr và bà B không biết Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cà Mau trao trả lại cho ông Tr và bà B là phù hợp.

[4] Đối với người tên T ở Thành phố Hồ Chí Minh cung cấp ma túy cho bị cáo H bán. Qua tra cứu thông tin khách hàng đăng ký số điện thoại 0704.902136 tên Đỗ Hoàng L, sinh ngày 01/9/1983, cư trú xã G, huyện P.Đ, thành phố Cần Thơ và số tài khoản 1015402313 tại Ngân hàng V là tên Hồ T, sinh ngày 18/7/1996, cư trú số 236, đường Võ Thành T, phường 11, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Qua điều tra, xác minh trên địa bàn xã G, huyện P.Đ, thành phố Cần Thơ không có người nào tên Đỗ Hoàng L. Người tên Hồ T không có mặt tại địa phương. Cơ quan điều tra chưa làm việc được nên giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cà Mau tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ có căn cứ xử lý sau là phù hợp.

Đối với người mua ma túy tên Th có số điện thoại 0842.227.232. Qua tra cứu thông tin khách hàng đăng ký số điện thoại này tên Lê Văn Thịnh, sinh ngày 01/01/2000, cư trú xã B, huyện T, tỉnh Cà Mau. Qua điều tra, xác minh hiện Lê Văn T đã bỏ địa phương đi đâu không rõ. Cơ quan điều tra chưa làm việc được nên giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cà Mau tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ có căn cứ xử lý.

Đối với người mua ma túy, có số điện thoại 0818.803.815. Qua tra cứu thông tin khách hàng đăng ký số điện thoại này tên Nguyễn Thị L, sinh ngày 20/6/1963, cư trú ấp T, xã B, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Ngày 09/5/2023, Cơ quan điều tra đã quyết định ủy thác điều tra đến Công an huyện huyện Đ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, nhưng chưa có kết quả. Khi có kết quả đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cà Mau tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ có căn cứ xử lý.

Đối với người mua ma túy, có số điện thoại 0886.222214. Qua tra cứu thông tin khách hàng đăng ký số điện thoại này tên Nguyễn Ngọc Đ, sinh ngày 09/8/1994, cư trú khóm 2, phường 5, thành phố Cà Mau. Qua làm việc, Đ khai nhận ngày 04/11/2022, có liên hệ với H mua ma túy nhưng chưa nhận ma túy.

Đối với người mua ma túy Tạ Bảo B. Ngày 18/5/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cà Mau có văn bản chuyển vụ việc đến Công an phường 5, thành phố Cà Mau để xử lý là phù hợp.

Đối với người mua ma túy, H khai tên Đ, không biết họ và địa chỉ cụ thể ở đâu, đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cà Mau tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ có căn cứ xử lý sau.

Đối với bà Trần Thị Mỹ L, khi giao túi nilon màu đen cho N tại trạm xe Y.H, không biết túi nilon này có ma túy nên không xem xét xử lý là phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b, c, p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 91, Điều 101 của Bộ luật hình sự năm 2015; Các Điều 106, 136, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Nhật H, Phạm Hoàng N và Dư Chí V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Nhật H 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày tạm giữ ngày 05/11/2022.

Xử phạt bị cáo Phạm Hoàng N 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày tạm giữ ngày 05/11/2022.

Xử phạt bị cáo Dư Chí V 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày tạm giữ ngày 05/11/2022.

Buộc bị cáo Nguyễn Nhật H nộp số tiền thu lợi bất chính 8.000.000đ (Tám triệu đồng).

Buộc bị cáo Dư Chí V nộp số tiền thu lợi bất chính 500.000đ (Năm trăm ngàn đồng).

Buộc bị cáo Phạm Hoàng N nộp số tiền thu lợi bất chính 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng).

Về tang vật đã thu giữ, hiện đang do Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Cà Mau quản lý được xử lý:

Tịch thu tiêu hủy: Phong bì được niêm phong ký hiệu số 347/KL-KTHS ngày 08/11/2022, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau chứa bao gói và chất ma túy hoàn lại sau khi giám định; 01 túi nylon màu đen có chữ “THANK YOU have A Nice Day With You”, dán băng keo, ghi chữ “My Cmau 0824148 830”; 01 túi nylon màu trắng trong suốt; 01 quần Jeans ống dài (đã qua sử dụng); 01 túi nylon màu đen; 01 hộp giấy màu trắng; 01 cân tiểu ly màu đen - trắng.

Tịch thu, sung quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu đen loại bàn phím đã qua sử dụng, có gắn sim số 0824 148 830 của bị cáo Nguyễn Nhật H; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng đồng, đã qua sử dụng, có gắn sim số 0375815710 của Phạm Hoàng N và 01(một) điện thoại di động hiệu Iphone màu xám, đã qua sử dụng, có gắn sim số 0815161817 của Dư Chí V.

Về án phí: Án phí hình sự sơ thẩm, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các bị cáo, người bào chữa cho bị cáo Dư Chí V và bà Đỗ Thị Kim L có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Dư Thành Q có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ