- Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Ngô Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN B THÀNH PHỐ H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:129/2023/HS-ST Ngày 11/7/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN B, THÀNH PHỐ H
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tuyết Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hoàng Phương Lan
Ông Ngô Minh Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Đắc Toàn là thư ký Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm -Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố H tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị H- Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận B, thành phố H, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 124/2023/TLST-HS ngày 15 tháng 6 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 159/2023/QĐ- ST ngày 27 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Ngô Văn T, sinh năm: 1995; Giới tính: Nam; HKTT: TDP Thượng Cát 1, phường T, quận B, Thành phố H; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 08/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông: Ngô Văn V, sinh năm 1969 (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị H, sinh năm: 1968; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Cao Thị Thanh T, sinh năm 1996; Bị cáo có 01 con, sinh năm 2020; Danh bản, chỉ bản số 157 lập ngày 16/3/2023 tại công an quận B; Nhân thân: Không có tiền án, tiền sự; Bị bắt quả tang ngày 09/3/2023;
(Có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11h00’ ngày 09/3/2023, tổ công tác công an phường T đang tuần tra trên địa bàn khi đến khu vực gần C thuộc TDP H 10, phường T, quận B, Thành phố H thì phát hiện đối tượng Ngô Văn T có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Quá trình làm việc với cơ quan công an, T tự nguyện giao nộp 01 gói nilong màu hồng bên trong chứa chất bột màu trắng và khai là ma túy Heroine, T mua về để sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản đưa T về trụ sở để tiếp tục điều tra làm rõ.
Vật chứng thu giữ của Ngô Văn T:
- 01 (một) gói nilong màu hồng bên trong chứa chất bột màu trắng;
Ngày 09/3/2023, cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận B ra Quyết định trưng cầu giám định số 155 trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố H giám định chất ma túy đã thu giữ.
Kết luận giám định số 1477 ngày 17/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố H kết luận:
- Chất bột màu trắng bên trong 01 gói nilong màu hồng là ma túy loại Heroin, khối lượng: 0,272 gam
Quá trình điều tra xác định:
Ngô Văn T là người nghiện ma túy Heroine lâu năm, bị phụ thuộc vào ma túy. Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 09/3/2023, T đi xe ôm từ khu vực Mỹ Đình, quận N đến khu vực C thuộc tổ dân phố H 10, phường T, quận B, Thành phố H với mục đích mua ma túy Heroine để sử dụng cho bản thân. Khi đến nơi, T gặp 01 nam thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua 500.000 đồng ma túy Heroine. Nam thanh niên đưa 01 gói nilong màu hồng bên trong chứa chất bột màu trắng là ma túy Heroine cho Thụ. Sau khi mua được ma túy, T cầm gói nilong chứa ma túy ở tay trái và đi bộ theo hướng C để ra cánh đồng tìm nơi sử dụng. Khi đang đi tìm nơi sử dụng thì T bị tổ công tác - công an phường T kiểm tra, T tự nguyện giao nộp gói nilong chứa ma túy Heroine cơ quan công an. Sau đó, Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và đưa T cùng tang vật về trụ sở để điều tra làm rõ.
Tại cơ quan điều tra, T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên và khai mục đích mua ma túy về là để sử dụng còn tiền mua ma túy do T lao động mà có.
Đối với đối tượng bán ma túy cho T cơ quan điều tra đã tiến hành rà soát quanh địa điểm T khai mua ma túy nhưng không xác định được. Ngoài lời khai của T không có tài liệu chứng cứ nào chứng minh nên cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ.
Đối với 01 gói nilong chứa ma túy Heroine đã được niêm phong thu giữ của Ngô Văn Tlà đồ vật liên quan đến hành vi phạm tội nên tiếp tục tạm giữ xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung trên.
Bản cáo trạng số 126/CT - VKS ngày 13/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm quyết định truy tố bị cáo Ngô Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy ” theo điểm c khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 điều 249; Điều 38; Điểm s, khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo từ 15 đến 20 tháng tù;
- Hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Căn cứ điều 47 của bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01( một) phong bì niêm phong bên trong có chứa ma túy sau giám định, bên ngoài có chữ ký giáp lai của Ngô Văn Thụ, giám định viên và cán bộ niêm phong.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai trái, vi phạm pháp luật, rất hối lỗi và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
.Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra – Công an quận Bắc Từ Liêm; Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
.Về nội dung: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và các chứng cứ khách quan khác, đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 09/3/2023, bị cáo T đi xe ôm từ khu vực M, quận N đến C thuộc tổ dân phố H 10, phường T, quận B, Thành phố H với mục đích mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Sau khi mua được 01 gói ma túy là Heroin với giá là 500.000đồng, có khối lượng 0,272gam, bị cáo đi tìm nơi sử dụng thì bị công an phường T kiểm tra, bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.
Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận B truy tố hành vi phạm tội của bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về ma tuý, gây mất trật tự trị an xã hội, bị cáo biết rõ ma tuý là chất gây nghiện, làm tổn hại đến sức khoẻ và là một trong những nguyên nhân gây nên căn bệnh AIDS, là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác. Đảng và Nhà nước đã nghiêm cấm mọi hành vi mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma tuý. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, do vậy cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, cách ly bị cáo khỏi đời sống chung xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội. Tuy nhiên HĐXX cũng xem xét nhân thân bị cáo tốt, chưa có tiền án, tiền sự, đây là lần đầu bị đưa ra xét xử; Thái độ khai báo thành khẩn tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo; Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
Về tình tiết tăng nặng: Không
. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai nhận tội, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự.
. Về vật chứng vụ án: Số ma túy đã thu giữ của Ngô Văn T là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy theo Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1.Tuyên bố: Bị cáo Ngô Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Căn cứ điểm c khoản 1 điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
2. Xử phạt: Bị cáo Ngô Văn T 13 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt quả tang 09/3/2023.
Căn cứ điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội.
3. Về vật chứng vụ án:
Tịch thu tiêu hủy: 01( một) phong bì niêm phong bên trong có chứa ma túy sau giám định, bên ngoài có chữ ký giáp lai của Ngô Văn T , giám định viên và cán bộ niêm. Theo biên bản giao nhận vật chứng số 185/23 ngày 16/6/2023 giữa cơ quan Cảnh sát Điều tra – Công an quận B với Chi cục Thi hành án dân sự quận B.
4. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Người tham gia tố tụng -VKS ND quận B - Công an quận B - Chi cục THA dân sự quận B - Lưu HS | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Tuyết |