vanban.org

Bản án 129/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La Tuyên án 22/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 06 (Sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/4/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VÂN HỒ
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 129/2023/HS-ST.
Ngày: 22-9-2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Phương Giang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Lương Hữu và ông Mùi Văn Hoạt

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Hằng Giang –Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyệnVân Hồ - tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Vì Thị Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 129/2023/TLST- ST ngày 30 tháng 8 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 128/2023/QĐXXST- HS ngày 11 tháng 9 năm 2023, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Đ; tên gọi khác: không; sinh năm 1987; tại huyện Thanh Oai, TP Hà Nội; Nơi cư trú: Bản B, xã Đ S, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ sinh năm 1953 và bà Nguyễn Thị N sinh năm 1957; bị cáo có vợ là Hà Thị Cúc sinh năm 1993 và 01 con sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không.

+ Ngày 21/5/2009, bị TAND huyện Mộc Châu áp dụng điểm d khoản 2 Điều 133, điểm b, p khoản 2 Điều 46, Điều 47, Điều 53 BLHS. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 05 năm tù giam về tội Cướp tài sản. Bị cáo phải chịu 50.000 đồng án phí HSST. Ngày 27/9/2009 Nguyễn Văn Đ đã thi hành xong các khoản. Đến ngày 05/6/2013, Nguyễn Văn Đ chấp hành xong án phạt tù.

+ Ngày 09/9/2014, bị TAND huyện Mộc Châu áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 194; Điểm p khoản 1 Điều 46; Điểm g khoản 1 Điều 48; khoản 2, 3 Điều 30; Điều 20; Điều 53 BLHS. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 48 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST. Phạt bổ sung: 2.000.000 đồng. Ngày 20/10/2014, Nguyễn Văn Đ đã thi hành xong khoản án phí và tiền phạt. Ngày 08/02/2018 Nguyễn Văn Đ chấp hành xong án phạt tù.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Vân Hồ kể từ ngày 14/4/2023 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên toà.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

+ Chị Hà Thị Cúc, sinh năm: 1993, địa chỉ: Bản Búa, xã Đông Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Có mặt.

+ Chị Nguyễn Thị Thủy Tiên, sinh năm: 1991, địa chỉ: Bản Hang Trùng 1, xã Vân Hồ, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 01 giờ 10 phút ngày 14/4/2023 tổ công tác Công an huyện Vân Hồ làm nhiệm vụ tại tiểu khu Sao Đỏ 1, xã Vân Hồ, huyện Vân Hồ phát hiện Nguyễn Văn Đ đang điều khiển xe máy BKS: 26G1 – 30460 có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác đã yêu cầu Đ dừng xe kiểm tra, phát hiện, thu giữ trong lòng bàn tay trái của Nguyễn Văn Đ đang cầm 01 túi nilon màu trắng bên trong là túi nilon màu xanh đựng 177 viên nén màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có ký hiệu WY nghi là Methamphetamine. Quá trình bắt giữ Đ khai nhận là ma túy loại Hồng phiến của Đ cất giấu để sử dụng cho bản thân; nguồn gốc số ma túy thu giữ là do Đ mua của Nguyễn Thị Thủy Tiên, sinh năm: 1991, trú tại: Bản Hang Trùng 1, xã Vân Hồ, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La với giá 3.000.000 đồng. Căn cứ vào vật chứng thu giữ và lời khai nhận của Nguyễn Văn Đ tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định, đồng thời dẫn giải Đ cùng vật chứng liên quan đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Vân Hồ để điều tra, làm rõ. Tạm giữ: 01 chiếc điện thoại di động; 01 chiếc xe máy BKS: 26G1 – 30460 và một số giấy tờ có liên quan.

Mở rộng điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện Vân Hồ đã thi hành lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Thị Thủy Tiên, sinh năm: 1991, trú tại: Bản Hang Trùng 1, xã Vân Hồ, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La. Kết quả khám xét không phát hiện thu giữ đồ vật, tài liệu gì. Quá trình điều tra ban đầu Nguyễn Thị Thủy Tiên khai là bạn của Đ nhưng Tiên không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của Đ. Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể của Nguyễn Thị Thủy Tiên vào 10 giờ 30 phút ngày 14/4/2023, Thủy Tiên âm tính với ma túy.

Ngày 14/4/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Vân Hồ và Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ cùng phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành cân tịnh xác định khối lượng 177 viên nén màu hồng thu giữ của Nguyễn Văn Đ được tổng khối lượng là 16,89 gam. Lấy 05 viên nén màu hồng có tổng khối lượng 0,55 gam làm mẫu giám định ký hiệu Đ. Mẫu giám định ký hiệu Đ được bàn giao cho Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La giám định chất ma túy, loại ma túy (BL: 15  17).

Tại kết luận giám định số: 805 ngày 15/4/2023 của phòng KTHS Công an tỉnh Sơn La đã kết luận: “Mẫu ký hiệu Đ gửi giám định là ma túy; Loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,55 gam.Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 16,89 gam; loại Methamphetamine. Hoàn lại đối tượng giám định: Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định”

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai: Đ có quen biết với Nguyễn Thị Thủy Tiên, sinh năm: 1991, trú tại: Bản Hang Trùng 1, xã Vân Hồ, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La. Khoảng 20 giờ ngày 13/4/2023, khi Đ đang ở nhà thì Tiên sử dụng số điện thoại 0962703059 gọi vào số 0988253313 của Đ và bảo Đ xuống nhà chơi (Đ hiểu là xuống chơi sẽ có ma túy sử dụng do trước đó Đ và Tiên đã trao đổi khi nào có hồng phiến thì Tiên gọi Đ xuống nhà chơi). Đ đồng ý. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, Đ điều khiển xe máy BKS: 26G1 – 30460 đi từ nhà tại bản Muống, xã Phiêng Luông, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La đến nhà Tiên chơi. Khi đến nơi Đ thấy Tiên ở nhà một mình, ngồi nói chuyện với Tiên một lúc thì Tiên bảo: “Em kiếm được rồi đấy vào trong này mà chơi” Đ vào trong phòng khách, lúc này Tiên bỏ ra một túi nilon màu trắng bên trong đựng 01 túi nilon màu xanh bên trong cùng đựng Hồng phiến. Tiên mở gói Hồng phiến ra đổ một ít Hồng phiến ra túi nilon màu trắng rồi Đ và Tiên cùng nhau sử dụng. Sau khi sử dụng xong Tiên bảo Đ cầm lấy túi Hồng phiến và bảo Đ chuyển cho Tiên 3.000.000 đồng. Đ đồng ý và bảo khi nào có tiền sẽ chuyển cho Tiên, Tiên đồng ý. Sau đó Đ cầm lấy túi Hồng phiến trong lòng bàn tay trái sau đó điều khiển xe máy đi về. Khi Đ đi đến khu vực Tiểu khu Sao Đỏ 1, xã Vân Hồ thì bị tổ công tác Công an huyện Vân Hồ kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang.

Cáo trạng số: 97/CT-VKS ngày 30/8/2023 của Viện kiểm sát nhân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới ảnh hưởng đến nội dung vụ án, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249, khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ từ 6 năm đến 6 năm 6 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng vỏ gói phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở + vật chứng còn lại Đ1 = 16,34 gam + một túi nilon màu trắng + một túi nilon màu xanh ban đầu; 02 phong bì niêm phong đựng 02 que thử ma túy của Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Thị Thủy Tiên và 01 chiếc mũ bảo hiểm màu xám.

- Trả lại cho Nguyễn Thị Thủy Tiên 01 chiếc điện thoại Nokia kèm 01 thẻ sim số 0962.703.059;

- Trả lại cho Nguyễn Văn Đ 01 chiếc điện thoại Iphone màu đỏ đen kèm 01 thẻ sim số 0988.253.313, 01 giấy phép lái xe tên Nguyễn Văn Đ.

- Chấp nhận việc ngày 29/08/2023,Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ đã xử lý vật chứng trả lại chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, loại Vision, màu xám đen, BKS: 26G1-30460 cho chị Hà Thị Cúc quản lý và sử dụng.

Ý kiếm của chị Hà Thị Cúc: Nguồn gốc chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, loại Vision, màu xám đen, BKS: 26G1-30460 là tài sản hợp pháp của tôi, tiền mua xe là của bố mẹ đẻ tôi cho tôi, tôi không nhập chiếc xe máy trên vào tài sản chung vợ chồng. Việc Nguyễn Văn Đ lấy xe đi để thực hiện hành vi phạm tội, tôi không biết và không liên quan. Xin HĐXX trả lại chiếc xe cho tôi quản lý, sử dụng. Đối với 01 chiếc mũ bảo hiểm màu xám là tài sản hợp pháp của tôi, tuy nhiên mũ không có giá trị sử dụng nên đề nghị HĐXX tuyên tịch thu tiêu hủy.

- Ý kiến của bị cáo: Nhất trí với đề nghị của Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận gì.

- Bị cáo nói lời sau cùng: Xin được HĐXX giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về chứng cứ xác định có tội: Ngày 14/4/2023, Nguyễn Văn Đ có hành vi Tàng trữ trái phép 16,89gam Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang. Trên cơ sở đó, có đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

. Tính chất hành vi của bị cáo: Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo đã cố tình phạm tội rất nghiêm trọng, tàng trữ 16,89gam Methamphetamine, đã xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy làm lây lan phát sinh các tệ nạn xã hội nhất là tội phạm về ma túy. Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương, cần có mức án phù hợp đối với bị cáo nhằm răn đe, giáo dục phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là những tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

- Về nhân thân: Bị cáo đã 02 lần bị Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu kết án về tội Cướp tài sản và tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo không lấy đó làm bài học kinh nghiệm cho bản thân, bị cáo coi thường pháp luật cố tình tiếp tục phạm tội rất nghiêm trọng. Cần có một mức án tương xứng với hành vi của bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Qua xác minh bị cáo không có tài sản riêng có giá trị. Do đó, HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo là có căn cứ.

Bị cáo đang bị tạm giam, thời hạn tạm giam còn lại không quá 45 ngày. Nên HĐXX tiếp tục tạm giam đối với bị cáo.

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Vân Hồ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ, Kiểm sát viên trong qua trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

Vật chứng của vụ án:

Đối với 01 phong bì niêm phong bên trong đựng vỏ gói phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở + vật chứng còn lại Đ1 = 16,34 gam + một túi nilon màu trắng + một túi nilon màu xanh ban đầu; 02 phong bì niêm phong đựng 02 que thử ma túy của Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Thị Thủy Tiên và 01 chiếc mũ bảo hiểm màu xám là những vật không còn giá trị hoặc cấm lưu hành nên tuyên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 chiếc điện thoại Nokia kèm 01 thẻ sim số 0962.703.059 thu giữ của chị Nguyễn Thị Thủy Tiên là tài sản hợp pháp của chị Tiên, không liên quan đến hành vi phạm tội của Nguyễn Văn Đ nên HĐXX trả lại cho chiếc điện thoại trên cho chị quản lý sử dụng;

Đối với 01 chiếc điện thoại Iphone màu đỏ đen kèm 01 thẻ sim số 0988.253.313 thu giữ của Nguyễn Văn Đ, 01 giấy phép lái xe tên Nguyễn Văn Đ đều là tài sản hợp pháp của Đ không liên quan đến hành vi phạm tội của Đ nên HĐXX trả lại cho Đ quản lý sử dụng.

- Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, loại Vision, màu xám đen, BKS: 26G1-30460 là tài sản hợp pháp của chị Hà Thị Cúc, nguôn gốc số tiền mua xe là của bố mẹ chị Cúc cho riêng chị Cúc, xe mang đăng ký tên Hà Thị Cúc quản lý và sử dụng, chị Cúc không nhập tài sản là chiếc xe máy trên vào tài sản chung của vợ chồng. Việc bị cáo Đ lấy xe đi mua ma túy chị Cúc không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Ngày 29/08/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ đã xử lý vật chứng trả lại chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, loại Vision, màu xám đen, BKS: 26G1-30460 cho chị Hà Thị Cúc quản lý và sử dụng là đúng quy định. Nên được HĐXX chấp nhận.

Về nguồn gốc chất ma túy: Nguyễn Văn Đ khai do Nguyễn Thị Thủy Tiên, sinh năm: 1991, trú tại: Bản Hang Trùng 1, xã Vân Hồ, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La bán cho Đ. Quá trình điều tra, Nguyễn Thị Thủy Tiên không thừa nhận việc bán ma túy cho Đ. Cơ quan điều tra đã cho Đ và Tiên đối chất, kết quả đối chất: Đ và Tiên vẫn giữ nguyên lời khai. Do chỉ có duy nhất lời khai của Nguyễn Văn Đ nên không đủ căn cứ để xử lý đối với Nguyễn Thị Thủy Tiên.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của Pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249, khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 06 (Sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/4/2023.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng vỏ gói phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở + vật chứng còn lại là 16,34 gam Methamphetamine + một túi nilon màu trắng + một túi nilon màu xanh ban đầu; 02 phong bì niêm phong đựng 02 que thử ma túy của Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Thị Thủy Tiên và 01 chiếc mũ bảo hiểm màu xám;

- Trả lại cho Nguyễn Thị Thủy Tiên 01 chiếc điện thoại Nokia kèm 01 thẻ sim số 0962.703.059;

- Trả lại cho Nguyễn Văn Đ 01 chiếc điện thoại Iphone màu đỏ đen kèm 01 thẻ sim số 0988.253.313, 01 giấy phép lái xe tên Nguyễn Văn Đ.

- Chấp nhận việc ngày 29/08/2023,Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ đã xử lý vật chứng trả lại chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, loại Vision, màu xám đen, BKS: 26G1-30460 cho chị Hà Thị Cúc quản lý và sử dụng.

Theo biên bản giao nhận vật chứng số 128/BBVC-CCTHA ngày 05/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của UBTV Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, chị Hà Thị Cúc có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Nguyễn Thị Thủy Tiên có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án./. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Toà án ND tỉnh;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND huyện (02 bản);

- Công an;

- Trại giam;

- THA hình sự;

- THA dân sự;

- Bị cáo;

- Người có QLNVLQ;

- Sở Tư pháp;

Hà Phương Giang

- Lưu án văn;

- Lưu hồ sơ.

THẨM PHÁN THÀNH VIÊN HỘ ĐỒNG XÉT

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA XỬ

Hà Phương Giang Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Toà án ND tỉnh;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND huyện (02 bản);

- Công an;

- Trại giam;

- THA hình sự;

- THA dân sự;

- Bị cáo;

- Người có QLNVLQ;

- Sở Tư pháp;

Hà Phương Giang

- Lưu án văn;

- Lưu hồ sơ.

Cỡ chữ