- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 129/2022/HSST Ngày:27-7- 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:BàVũ Thị Nhung;
Các Hội thẩm nhân dân:Bà Nguyễn ThịViệt Hà và bà Hoàng Thị Thái;
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh Hồng- Thư ký Toà án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Lê Thanh Nghị - Kiểm sát viên.
Ngày27tháng 7 năm 2022, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 135/2022/TLST-HS ngày 08tháng 7năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 133/2022/QĐXXST-HS ngày14tháng7năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Đức T; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; sinh ngày 15 tháng 2 năm 1971 tại tỉnh Điện Biên; nơi cư trú:Tổ dân phố 01, phường, thành phố Đ, tỉnh Đ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc:Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa:7/10; con ông: Nguyễn Đức H (đã chết) và bà Nguyễn Thị Tr; vợ: Lê Thị P (đã ly hôn); con: Chưa có; tiền án: Năm 1999 bị xử phạt 24 tháng tù về tội "Tổ chức sửdụng trái phép chất ma túy", phạt 20.000.000 đồng, 02 năm quản chế và phải chịu 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm (tại bản án hình sự sơ thẩm số 22/HSST ngày 19/8/1999 của Tòa án nhân dân thị xã Lai Châu, tỉnh Lai Châu cũ), bị cáo chưa thi hành 20.000.000 đồng tiền phạt; tiền sự: Không; nhân thân: Sử dụng ma túy, năm 2003 bị xử phạt 06 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy"và phải chịu 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm (tại bản án hình sự sơ thẩm số 55/HSST ngày 18/12/2003 của Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu cũ) bị cáo đã chấp hành xong T bộ bản án và được đương nhiên xóa án tích đối với bản án này; bị tạm giữ từ ngày25/3/2022, sau đó bị tạm giam cho đến nay - Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Về hành vi phạm tội củabị cáo: Khoảng 13 giờngày 25/3/2022, tạikhu vực tổ dân phố 08, phường NamThanh, thành phố Điện Biên Phủ; khi bị Công an thành phố Điện Biên Phủ kiểm tra, bị cáo Nguyễn Đức T đã tự nguyệngiao nộpmột gói nilon màu đỏ, bên trong có chứa các cục chất bột màu trắng đục. Bị cáo khai đó là Heroine, bị cáo đã đi xe máy BKS 27F4-6237 mượncủa mẹ là Phạm Thị Tr, đến bản Xôm, xã Thanh An, huyện Điện Biên,mua của một người đàn ông đangđứng bên đường, với giá 200.000 đồng để sử dụng. Bị cáo đã lấy ra sử dụng một ít ở bụi tre bên đường vàgói số còn lạitrong mảnh nilon màu đỏ, dùng 02 miếng cao dán mang theo dán vào lòng bàn chân bên phải của bị cáo, trên đường về bị cáo bị phát hiện, thu giữ T bộ số Heroine bị cáo cất giữ và chiếc xe máy bị cáo đang điều khiển.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túycủa mình như đã nêu trên.
2. Các vấn đề khác:
Bà Tr không biết việc bị cáo sử dụng xe của mình đi mua ma túy, đã nhận lại xe từ Cơ quan điều tra và không có yêu cầu gì khác.
Cơ quan điều tra đã gửi T bộ số chất bột màu đục trắng thu giữ của bị cáo đi giám định. Bản kết luận giám định số 466/KL-KTHS ngày 01/4/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng đục gửi giám định là Heroine, có khối lượng 0,43 gam. Heroine là chất ma túy trong danh mục các chất ma túy có số thứ tự 09, mục IA, danh mục I Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ; sau giám định hoàn lại 0,38 gam Heroine.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáokhông khiếu nại về kết luận giám định nêu trên.
3. Cáo trạng số 84/CT-VKSTPĐBP ngày 08/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ truy tố bị cáo về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm ckhoản 1 Điều 249 BLHS. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, bị cáonhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểms khoản 1Điều 51 và điểm h khoản 1 Điều 52của BLHS xử phạt bị cáo từ15 tháng đến 18 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; vật chứng: Số ma túycòn lại đề nghịtịch thu để hủy cùng với những vật dùng để gói, dán ma túy.
4. Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Bị cáođã biết việc làm của mình là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về hành vi phạm tội của bị cáo:Lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với vật chứng thu giữ được, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ căn cứ để xác định:Bịcáo Nguyễn Đức Tđã có hành vicất giữ trái phép0,43 gam Heroinevới mục đích để sử dụng và đã bịCông anthành phố Điện Biên Phủphát hiện bắt giữ vào lúc 13 giờngày 25/3/2022 tại tổ dân phố08, phường NamThanh,thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên.
Điều 249 BLHS quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
...g)...Heroine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theođiều luật đã viện dẫn trên.
Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội; nhân thân và các tình tiết tăng nặng,giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:
Bịcáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý các chất ma túy của Nhà nước, mà nguyên nhânlà do bị cáo thiếu ý thứcchấp hành pháp luật, sử dụng ma tuý trái phép. Bản thân bị cáo đã nhiều lần bị xử phạt tù về tội phạm ma túy, trong đó có một lần chưa được xóa án tích do chưa thi hành hình phạt tiền (bản án hình sự sơ thẩm số 22/HSST ngày 19/8/1999 của Tòa án nhân dân thị xã Lai Châu, tỉnh Lai Châu cũ), nên trong lần phạm tội này bị cáo thuộc trường hợp "Tái phạm" theo khoản 1 Điều 53 BLHS, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS. Vì vậy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, để giáo dục cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm nói chung. Áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình theo Điều 51 BLHS đối với bị cáo.
Hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là có cơ sở chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 249 BLHS thì: "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc T bộ tài sản".Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo, thì bị cáokhông có thu nhập ổn định và sống phụ thuộc vào gia đình, không có tài sản gì đáng kể, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối vớibị cáo.
Vật chứng và các vấn đề khác:Số ma túycòn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành, tịch thu để hủy cùng những vật dùng để gói, dán ma túykhông còn giá trị.Xe máy tạm giữ là xe của bà Phạm Thị Tr (mẹ bị cáo); bà Tr không biết việc dùng xe đi mua ma túy của bị cáo, việcCơ quan điều tra đã trả lại xe cho bà Trlà đúng quy định của pháp luật, nên HĐXX không đề cập xem xét lại. Bị cáokhông quen biết người bán ma túy cho mình, nên không có cơ sở điều tra làm rõ.
Án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Điện Biên Phủ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 38,điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, điểm a, c khoản 1 Điều 47của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ vào điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự;
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo01(một)năm 03 (ba)tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bịtạm giữ 25/3/2022.
3. Vật chứng:Tịch thu để hủy0,38 gam Heroine; 01 mảnh nilon, 02 mảnh caodán (Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày11tháng7năm 2022 giữa Chi cục thi hành án dân sự và Cơ quan cảnh sát điều tra).
4. Án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Bị cáocó quyền kháng cáo bản ántrong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (27/7/2022).
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND TPĐBP; - VKSND tỉnh ĐB; - CQ CSĐT công an TP.ĐBP; - Cơ quan thi hành án hình sự; - Nhà tạm giữ CATP; - Đội HSNV Công an TP ĐBP; - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên; - HS Thi hành án HS; - Chi cục THADS TPĐBP; - TAND tỉnh ĐB; - Lưu hồ sơ; - VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Nhung |