- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Minh T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Ngô Minh T 05 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 25/6/2022.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 129/2022/HS- ST Ngày: 06/9/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Nghệ.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Tình và ông Nguyễn Thế Hùng
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Linh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thùy Trang - Kiểm sát viên.
Trong ngày 06 tháng 9 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 113/2022/TLST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 138/2022/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:
Ngô Minh T; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 12 tháng 10 năm 1994 tại: huyện D, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm A, xã T, huyện D, tỉnh Nghệ An; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Thiên Chúa Giáo; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Ngô Văn L, sinh năm 1967 và con bà: Nguyễn Thị T, sinh năm 1972; Anh chị em ruột: Có 04 người, bị cáo là con thứ nhất; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 12/9/2012, bị TAND huyện D xử 9 tháng cải tạo không giam giữ về tội Trộm cắp tài sản tại Bản án số 82/2012/HSST; Ngày 18/4/2018 bị TAND huyện D xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy tại Bản án số 21/2018/HS-ST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/11/2019 và án phí HSST, đã được xóa án tích; Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/6/2022 cho đến nay. Có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Anh Ngô Hồng Tr, sinh năm 1990. Vắng mặt.
Nơi cư trú: Xóm N, xã V, huyện D, tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 21 giờ 20 phút ngày 25/6/2022, tại khu vực đường liên thôn (xóm A, xã T, huyện L, Nghệ An), Tổ công tác Công an huyện L, tỉnh Nghệ An đã bắt quả tang Ngô Minh T có hành vi tàng trữ trái phép 5,145g ma túy (Methamphetamine) nhằm mục đích sử dụng.
Tại Bản kết luận Giám định số 962/KL-PC09(Đ2-MT) ngày 01/7/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Mẫu viên nén màu hồng thu giữ của Ngô Minh T gửi đến giám định là ma túy (Methamphetamine). Số viên nén màu hồng thu giữ của Ngô Minh T có tổng khối lượng 5,145gam.
Cáo trạng số 130/CT-VKS-QL, ngày 12 tháng 8 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu đã truy tố bị cáo Ngô Minh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên toàn bộ nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Ngô Minh T từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Vật chứng vụ án: Áp dụng điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư bưu điện đã được niêm phong, bên trong chứa 5,055g ma túy Methamphetamine (sau khi đã lấy mẫu giám định) và vỏ niêm phong ban đầu.
Trả lại cho bị cáo Ngô Minh T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu vàng, số máy kiểu A37F, đã qua sử dụng.
Án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ Ban Thường Vụ Quốc Hội; Buộc bị cáo Ngô Minh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Ngô Minh T khai nhận hành vi phạm tội nêu trên.
Lời nói sau cùng bị cáo Ngô Minh T xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Quỳnh Lưu, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đó thực hiện đều hợp pháp.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; Phù hợp với kết luận giám định số 962/KL - PC09(MT) ngày 01/7/2022 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An. Hành vi của bị cáo thực hiện nêu trên đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự như Cáo trạng quy kết là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác, bị xã hội lên án. Bởi vậy, căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội cần thiết phải xử phạt nghiêm khắc bằng hình phạt tù, tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện để răn đe giáo dục người phạm tội nói riêng cũng như phòng ngừa tội phạm nói chung. Cần thiết phải cách ly xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy điều kiện hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn về kinh tế nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho T, do biết không tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ điều tra xử lý;
Đối với anh Ngô Hồng Tr khi cho Ngô Minh T mượn xe anh Tr không biết T sử dụng xe vào mục đích phạm tội nên không phạm tội.
Vật chứng vụ án:
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư bưu điện đã được niêm phong, bên trong chứa 5,055g ma túy Methamphetamine (sau khi đã lấy mẫu giám định) và vỏ niêm phong ban đầu.
01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu vàng, số máy kiểu A37F, đã qua sử dụng, không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
[7 ] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Ngô Minh T 05 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 25/6/2022.
Xử lý vật chứng: Căn cứ điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư bưu điện đã được niêm phong, bên trong chứa 5,055g ma túy Methamphetamine (sau khi đã lấy mẫu giám định) và vỏ niêm phong ban đầu.
Trả lại cho bị cáo Ngô Minh T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu vàng, số máy kiểu A37F, đã qua sử dụng.
(Đặc điểm các vật chứng trên có tại biên bản giao, nhận vật chứng giữa Công an huyện Quỳnh Lưu và Chi cục thi hành án Dân sự huyện Quỳnh Lưu hồi 09 giờ 00 phút, ngày 15/8/2022).
Về án phí: Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ Ban Thường Vụ Quốc Hội; Buộc bị cáo Ngô Minh T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết bản sao bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND tỉnh Nghệ An; - VKSND huyện Quỳnh Lưu; - CA huyện Quỳnh Lưu; - CCTHA Dân sự huyện Quỳnh Lưu; - THA hình sự; - Sở Tư pháp; - UBND xã D (để biết); - Bị cáo; - Lưu HS- VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Nghệ |