- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn, tranh chấp nuôi con"
- Tòa quyết gì? 1/- Chấp nhận yêu cầu của chị Huỳnh Thị Kim H được ly hôn với anh Lê Văn L.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G TỈNH B | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 129/2022/HN-ST Ngày: 09-9-2022 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G – B
Với Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa Pên tòa: bà Đặng Thị Ngọc Duyên.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Phú Chánh Thể
2. Ông Phạm Quốc Toàn
- Thư ký Pên Tòa: bà Huỳnh Như Thắm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh B.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G tham gia Pên tòa: bà Ngô Thị Mỹ Trang – Kiểm sát viên.
Ngày 09/9/2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện G xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 273/2022/TLST-HNGĐ ngày 04/7/2022 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 213/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 08/8/2022 và quyết định hoãn Pên tòa số: 148/2022/QĐST-HNGĐ ngày 24/8/2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: chị Huỳnh Thị Kim H, sinh năm 1985; địa chỉ: ấp T, xã T1, huyện G, tỉnh B (vắng có đơn).
2. Bị đơn: anh Lê Văn L, sinh năm 1970; địa chỉ: ấp 13, xã L2, huyện G, tỉnh B (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 07/6/2022 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Huỳnh Thị Kim H trình bày:
Chị và anh L tự nguyện kết hôn vào năm 2003, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (ghi tắt là UBND) xã L2 (G, B) vào năm 2006. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến năm 2008, do bất đồng quan điểm nên hai bên phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân cho đến nay. Do hai bên không còn tình cảm vợ chồng, ly thân cũng đã lâu nên chị yêu cầu ly hôn với anh L. Con chung: Lê Huỳnh N sinh ngày 26/6/2003 đã trưởng thành và Lê Huỳnh Nhật P sinh ngày 20/8/2006 hiện đang ở với cha. Khi ly hôn, do Lê Huỳnh N đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết; riêng Lê Huỳnh Nhật P, chị để cho anh L tiếp tục nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, nợ chung không có.
Trong quá trình tố tụng, bị đơn anh Lê Văn L vắng mặt không lý do và không có văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu của chị Huỳnh Thị Kim H.
Tại Pên tòa:
Chị Huỳnh Thị Kim H vắng mặt và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
Anh Lê Văn L vắng mặt không có lý do.
Quan điểm của Viện kiểm sát:
- Về thủ tục: sau khi nhận đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ kèm theo và xem xét có đủ điều kiện thụ lý, Tòa án đã tiến hành thủ tục thụ lý vụ án theo đúng quy định. Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền hạn của mình trong giai đoạn chuẩn bị xét xử. Do anh L vắng mặt nên Tòa án lập biên bản không hòa giải được. Các tài liệu chứng cứ được thu thập đầy đủ làm cơ sở giải quyết đúng đắn vụ án. Thời hạn chuẩn bị xét xử được đảm bảo theo quy định. Tại Pên tòa, Hội đồng xét xử tiến hành các hoạt động tố tụng theo đúng quy định chung về Pên tòa sơ thẩm, thủ tục bắt đầu Pên tòa, tranh tụng tại Pên tòa. Thư ký Pên tòa đã thực hiện các công việc chuẩn bị khai mạc Pên tòa và các Nệm vụ, quyền hạn của mình đúng quy định. Nguyên đơn đã tuân thủ và thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn không tuân thủ và không thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Vi phạm của bị đơn có ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nhưng không lớn nên không đề nghị xử lý.
- Về nội dung: căn cứ các điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H:
+ Về hôn nhân: chị H được ly hôn với anh L;
+ Về con chung: anh L được tiếp tục, trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục Lê Huỳnh Nhật P sinh ngày 20/8/2006 đến khi cháu P đủ 18 tuổi. Anh L có quyền khởi kiện vụ án khác để yêu cầu Tòa án giải quyết buộc chị H cấp dưỡng nuôi con. Chị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
+ Về tài sản chung, nợ chung: chị H trình bày không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra công khai các chứng cứ tại Pên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về thủ tục: tại Pên toà, nguyên đơn vắng nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; riêng bị đơn mặc dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, việc đưa vụ án ra xét xử là phù hợp với quy định tại các điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về hôn nhân: do chị H và anh L kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại UBND xã L2 (G, B) vào năm 2006 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp. Thời gian đầu, hai bên chung sống hạnh phúc. Nhưng đến năm 2008, do bất đồng quan điểm nên hai bên phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân cho đến nay. Trong thời gian ly thân, cả hai đều không có thiện chí hàn gắn. Trong quá trình tố tụng, chị H xác định hai bên không còn tình cảm do ly thân đã lâu, không có khả năng hàn gắn, giữ nguyên yêu cầu ly hôn và yêu cầu xét xử vắng mặt; anh L mặc dù được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không tham dự các Pên hòa giải cũng như vắng mặt tại Pên tòa. Qua đó có cơ sở xác định tình cảm vợ chồng giữa hai bên đã không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài và không còn khả năng hàn gắn. Do đó, xét yêu cầu ly hôn của chị H là có căn cứ, phù hợp với quy định tại các điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Lê Huỳnh N sinh ngày 26/6/2003 đã trưởng thành, có khả năng lao động tự sinh sống được, chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Riêng Lê Huỳnh Nhật P sinh ngày 20/8/2006, xét thấy từ khi chị H và anh L ly thân cho đến nay, cháu P do anh L chăm sóc, nuôi dưỡng, cuộc sống đã ổn định; cháu P có nguyện vọng sống với cha; anh L không có ý kiến từ chối việc nuôi con và chị H cũng không tranh chấp. Do đó xét giao con chung là Lê Huỳnh Nhật P cho anh L tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng là có căn cứ và phù hợp với quy định pháp luật tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Do anh L không có yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi cháu P nên Hội đồng xét xử không xem xét; khi có nhu cầu, anh L có quyền khởi kiện sau bằng một vụ án khác.
Về tài sản chung, nợ chung: chị H trình bày không có, không ai yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Xét đề nghị của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: chị H phải nộp số tiền là 300.000 đồng theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng các điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1/- Chấp nhận yêu cầu của chị Huỳnh Thị Kim H được ly hôn với anh Lê Văn L.
2/- Con chung:
Lê Huỳnh N sinh ngày 26/6/2003 đã trưởng thành, có khả năng lao động tự sinh sống được, chị H không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Giao Lê Huỳnh Nhật P sinh ngày 20/8/2006 cho anh L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con. Chị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
3/- Tài sản chung, nợ chung: chị H trình bày không có, không ai yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
4/- Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: buộc chị Huỳnh Thị Kim H phải nộp số tiền là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) và được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0008228 ngày 01/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện G. Do đó, án phí sơ thẩm, chị H đã nộp xong.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại Pên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - VKSND huyện; - Các đương sự; - Chi cục THA huyện; - UBND xã L2, (G, B); - Lưu. Các Hội thẩm nhân dân | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PÊN TÒA Đặng Thị Ngọc Duyên Thẩm phán – Chủ tọa Pên tòa Đặng Thị Ngọc Duyên |