vanban.org

Bản án 129/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND TP. Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu Tuyên án 06/09/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín đối với chị Lý Thị H.

2/. Buộc chị Lý Thị H có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín theo Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng kiêm giấy nhận nợ số LD1901100983 ngày 11/01/2019 số tiền tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 06/9/2022) là 22.477.318 đồng (Hai mươi hai triệu, bốn tră… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? / Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín đối với chị Lý Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẠC LIÊU
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 129/2022/DS – ST
Ngày 06/9/2022
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Võ Phương Bình

Hội thẩm nhân dân: Bà Khưu Liên Dung và bà Dư Thị Út.

- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Công Bằng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Tiểu My - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 27/2022/ TLST-DS ngày 28 tháng 01 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2022/QĐXXST-DS, ngày 28 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP SGTT

Trú tại: Số 266 - 228, đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường Võ Thị Sáu, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh. Địa chỉ liên hệ: Số 248, đường Trần Phú, Khóm 5, Phường 7, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Tổng Giám đốc (Địa chỉ: Số 76/18B, đường Nguyên Hồng, Phường 11, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh).

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Chí Tr – Giám đốc chi nhánh Ngân hàng TMCP SGTT tỉnh Bạc Liêu (Địa chỉ: Số 139/45, Hẻm 8, đường Trần Hưng Đạo, khóm Đông An 4, phường Mỹ Xuyên, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang). Theo Quyết định số 3977/2020/QĐ-PL ngày 28/12/2020 của Tổng Giám đốc Ngân hàng TMCP SGTT.

Ông Nguyễn Chí Tr ủy quyền cho anh Nguyễn Thanh Ph – Chuyên viên quản lý nợ Ngân hàng TMCP SGTT (theo Giấy ủy quyền số 186/2022/GUQ-CNBL ngày 08/3/2022).

2. Bị đơn: Chị Lý Thị H, sinh năm 1993

Trú tại: Số 554/7, khóm Nhà Mát, phường Nhà Mát, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

(Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín, đại diện theo ủy quyền anh Nguyễn Thanh Ph trình bày: Vào ngày 11/01/2019, Ngân hàng TMCP SGTT – Chi Nhánh Bạc Liêu đã ký kết Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng kiêm giấy nhận nợ số LD1901100983 với chị Lý Thị H, theo đó Ngân hàng TMCP SGTT cho chị Lý Thị H vay số tiền là 30.000.000 đồng, mục đích vay mua sắm vật dụng gia đình, lãi suất vay 20,4%/năm trong suốt thời gian vay, thời gian vay 18 tháng; hình thức trả nợ gốc và lãi được trả cố định vào ngày 10 hàng tháng. Quá trình vay, tính đến ngày 20/12/2021, chị Lý Thị H đã thanh toán cho Ngân hàng được tổng số tiền 24.573.089 đồng (gồm: Vốn gốc là 19.326.000 đồng và lãi là 5.247.089 đồng). Ngân hàng TMCP SGTT khởi kiện chị Lý Thị H yêu cầu phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 06/9/2022 là 22.477.318 đồng (Trong đó: Nợ gốc 10.674.000 đồng; lãi trong hạn 4.080.000 đồng; lãi quá hạn 7.723.318 đồng) và tiền lãi phát sinh từ ngày 07/9/2022 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng kiêm giấy nhận nợ số LD1901100983 ngày 11/01/2019.

Bị đơn chị Lý Thị H được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đã không đến Tòa án theo triệu tập.

Tại Bản tự khai, Biên bản về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ đại diện Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín vẫn giữ nguyên yêu cầu, ý kiến của mình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu phát biểu quan điểm cho rằng:

- Về tố tụng: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình và có đơn xin xét xử vắng mặt hợp lệ nên chấp nhận; bị đơn chưa tuân thủ quy định pháp luật

- Về nội dung: Việc thỏa thuận vay nợ theo Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng kiêm giấy nhận nợ là thực tế nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín, buộc chị Lý Thị H trả cho Ngân hàng số tiền tính đến ngày 06/9/2022 là 22.477.318 đồng (Trong đó: Nợ gốc 10.674.000 đồng; lãi trong hạn 4.080.000 đồng; lãi quá hạn 7.723.318 đồng) và tiền lãi phát sinh từ ngày 07/9/2022 theo Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng kiêm giấy nhận nợ đã ký kết cho đến khi trả hết nợ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu về việc tuân theo pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về thẩm quyền: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc chị Lý Thị H trả nợ theo Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng kiêm giấy nhận nợ số LD1901100983 đã ký kết. Chị Lý Thị H có địa chỉ hiện nay tại thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu; theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Bạc Liêu.

[2] Về thủ tục: Nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín có đơn xin xét xử vắng mặt là hợp lệ nên được chấp nhận.

Chị Lý Thị H đã được Tòa án triệu tập đến Tòa án để công khai chứng cứ và hòa giải, triệu tập xét xử theo quyết định xét xử, quyết định hoãn xét xử nhưng chị Lý Thị H không đến, Tòa án không thể tiến hành hòa giải giữa các đương sự. Căn cứ vào các Điều 207, 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[3] Về nội dung khởi kiện: Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín yêu cầu chị Lý Thị H trả nợ theo Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng kiêm giấy nhận nợ số LD1901100983 đã ký với Ngân hàng, với tổng số tiền tạm tính đến ngày 06/9/2022 là 22.477.318 đồng (Trong đó: Nợ gốc 10.674.000 đồng; lãi trong hạn 4.080.000 đồng; lãi quá hạn 7.723.318 đồng) và tiền lãi phát sinh từ ngày 07/9/2022 cho đến khi thanh toán công nợ, chị Lý Thị H phải chịu lãi suất nợ quá hạn theo quy định của hợp đồng tín dụng đã ký kết với Ngân hàng.

[3.1] Trong quá trình chuẩn bị xét xử, Tòa án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng chị Lý Thị H không trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn mà không tham gia phiên họp về việc kiểm tra, giao nộp, tiếp cận chứng cứ và hòa giải, đồng thời cũng không cung cấp các tài liệu, chứng cứ để chứng minh. Như vậy, chị Lý Thị H đã từ bỏ quyền chứng minh của mình theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên Hội đồng xét xử chỉ xem xét yêu cầu khởi kiện dựa trên các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và các tài liệu, chứng cứ do Tòa án tiến hành thu thập được theo quy định của pháp luật.

Khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”, Hội đồng xét xử lấy lời trình bày và các chứng cứ do nguyên đơn cung cấp làm chứng cứ giải quyết vụ án.

Xét Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng kiêm giấy nhận nợ số LD1901100983 được ký kết giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín với chị Lý Thị H vào ngày 11/01/2019, theo đó Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín cho chị Lý Thị H vay tiêu dùng trả góp số tiền mua sắm vật dụng gia đình, lãi suất vay 20,4%/năm trong suốt thời gian vay, thời gian vay 18 tháng; hình thức trả nợ gốc và lãi được trả cố định vào ngày 10 hàng tháng, tính từ ngày 11/01/2019. Hội đồng xét xử xét thấy, Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng kiêm giấy nhận nợ số LD1901100983 được các bên tự nguyện ký kết ngày 11/01/2019, hình thức, nội dung thỏa thuận của các bên là phù hợp, không trái quy định pháp luật, khách hàng vay là chị Lý Thị H đã vi phạm hợp đồng, không thực hiện đúng thỏa thuận đã giao kết trong hợp đồng nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu chị Lý Thị H trả nợ vay theo hợp đồng đã ký là có căn cứ, nên được chấp nhận.

[3.2] Xét về yêu cầu trả vốn lãi của Ngân hàng: Hội đồng xét xử xét thấy, sau khi vay chị Lý Thị H đã trả được vốn là 19.326.000 đồng và lãi là 5.247.089 đồng như Ngân hàng trình bày thì không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ. Do chị Lý Thị H đã vi phạm nên Ngân hàng đã chuyển sang nợ quá hạn tạm tính đến ngày 06/9/2022 là 22.477.318 đồng (Trong đó: Nợ gốc 10.674.000 đồng; lãi trong hạn 4.080.000 đồng; lãi quá hạn 7.723.318 đồng) như Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín yêu cầu là có căn cứ được chấp nhận.

[3.3] Như đã nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tại phiên tòa.

[4] Về án phí:

Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch chị Lý Thị H phải nộp 1.123.866 đồng (của số tiền 22.477.318 đồng).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 207; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; điểm a, b khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 91, Điều 95 và Điều 98 Luật các Tổ chức Tín dụng;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1./ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín đối với chị Lý Thị H.

2/. Buộc chị Lý Thị H có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín theo Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng kiêm giấy nhận nợ số LD1901100983 ngày 11/01/2019 số tiền tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 06/9/2022) là 22.477.318 đồng (Hai mươi hai triệu, bốn trăm bảy mươi bảy nghìn, ba trăm mười tám đồng). Bao gồm: Vốn gốc 10.674.000 đồng; lãi trong hạn 4.080.000 đồng; lãi quá hạn 7.723.318 đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, chị Lý Thị H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận theo Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng kiêm giấy nhận nợ số LD1901100983 ngày 11/01/2019 đã ký cho đến khi thanh toán xong khoản nợ với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín.

3/. Về án phí:

Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Chị Lý Thị H phải nộp 1.123.866 đồng (Một triệu, một trăm hai mươi ba nghìn, tám trăm sáu mươi sáu đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu.

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín không phải nộp, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín đã dự nộp số tiền 498.244 đồng (Bốn trăm chín mươi tám nghìn, hai trăm bốn mươi bốn đồng) theo biên lai thu số 0007287 ngày 26/01/2022, được hoàn lại tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án sơ thẩm xử công khai, các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ