- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh T phạm tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ THANH HOÁ TỈNH THANH HÓA Bản án số: 129/2021/HS - ST Ngày 01/3/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ - TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Tân Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Cát Tưởng
Bà Nguyễn Thị Phương Nga
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Duy Ninh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hóa
- Đại diện VKSND Thành phố Thanh hoá tham gia phiên toà:
Bà Trần Thị Thuận - Kiểm sát viên
Ngày 01 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 141/2021/HSST/TLST - HS ngày 20 tháng 01 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 148/2021/QĐXXST – HS ngày 18 tháng 02 năm 2021 đối với bị cáo:
Nguyễn Thanh T, sinh năm 1982; Nơi cư trú: Phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 11/12; Quốc tịch: Việt nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông: Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Lê Thị H; Có vợ: Lê Thị Y(đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2007;
Tiền án: - Ngày 15/8/2016 bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 12/5/2017 chấp hành xong án phạt tù.
- Ngày 29/11/2018 bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 31/01/2020 chấp hành xong án phạt tù.
Tiền sự: không;
Nhân thân: - Ngày 17/7/2006 bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử phạt 18 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách là 30 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Ngày 18/01/2008 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Thanh Hóa quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, tại Trung tâm giáo dục - lao động xã hội tỉnh Thanh Hóa. Ngày 15/4/2010 chấp hành xong.
1
- Ngày 23/02/2011, bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/10/2020. Hiện bị cáo đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa; “ Có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 00 giờ 00 phút ngày 12/10/2020, tổ tuần tra phòng PK02 - Công an tỉnh Thanh Hóa làm nhiệm vụ tuần tra tại khu vực gần nhà nghỉ Hoàng Gia, ở địa chỉ số nhà 254 Dương Đình Nghệ, phường Đông Thọ, thành phố Thanh Hóa, phát hiện Nguyễn Thanh T có biểu hiện nghi vấn nên đã yêu cầu kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra phát hiện và thu giữ cách vị trí T đứng khoảng 2m, 02 túi nilon màu trắng, kích thước (3x3)cm, trong đó: 01 túi chứa các hạt tinh thể màu trắng, 01 túi chứa 02 viên nén màu vàng. T khai nhận đó là ma túy (Ketamin và ma túy tổng hợp) của Tùng vừa mua, cất dấu mục đích là để sử dụng.
Tại bản kết luận giám định số 2769/PC09 ngày 14/10/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: “- Các hạt tinh thể màu trắng của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,492g (không phẩy bốn chín hai gam), loại: Ketamine; - 02 (hai) viên nén màu vằng của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,692g (không phẩy sáu chín hai gam), loại: MDMA.”
Quá trình điều tra Nguyễn Thanh T khai nhận:
Khoảng 23 giờ ngày 11/10/2020, Nguyễn Thanh T đi bộ đến khu vực bến xe Buýt trước chợ Tây Thành, phường Tân Sơn, thành phố Thanh Hóa tìm mua ma túy về để sử dụng. Tại đây T gặp và nhờ một người xe ôm (không rõ lai lịch) mua ma túy giúp. T đưa cho người xe ôm số tiền là 1.300.000 đồng, trong đó 1.100.000 đồng là tiền mua ma túy và 200.000 đồng là tiền trả công cho người xe ôm. Người nay đi đâu đó khoảng 15 phút sau đó quay lại và đưa cho Tùng 02 túi nilon màu trắng bên trong chứa ma túy. Sau khi mua được ma túy, T cầm túi ma túy bằng tay trái và đi bộ về, khi đi đến khu vực gần nhà nghỉ Hoàng Gia, ở địa chỉ 254 Dương Đình Nghệ, phường Đông Thọ, thành phố Thanh Hóa thì bị tổ công tác phòng PK02, Công an tỉnh Thanh Hóa yêu cầu kiểm tra. Do lo sợ nên T đã thả từ tay trái xuống đường 02 gói ni lon màu trắng, bên trong là chứa các hạt tinh thể màu trắng và 02 viên nén màu vàng. Tổ công tác đã phát hiện và thu giữ 02 gói ma túy trên, đưa T cùng tang vật về trụ sở phòng cảnh sát cơ động – Công an tỉnh Thanh Hóa
2
để làm việc. T thừa nhận đó là 02 gói ma túy loại ketamin và ma túy tổng hợp, Tùng vừa mua nhằm mục đích để sử dụng.
Theo lời khai của Nguyễn Thanh T, đã nhờ một người đàn ông đi xe ôm lạ mặt không quen biết, không rõ tên tuổi địa chỉ cụ thể ở khu vực bến xe buýt trước chợ Tây Thành, phường Tân Sơn, thành phố Thanh Hóa, mua ma túy giúp, quá trình điều tra không có đủ căn cứ xác định, nên không có cơ sở để xử lý.
Tại bản cáo trạng số 18/CTr – VKS ngày 19 tháng 01 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thanh hoá truy tố bị cáo Nguyễn Thanh T về tội “ Tàng trữ phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 BLHS.
Tại phiên toà đại diện viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thanh hoá luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS; đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù; Đề nghị HĐXX xử lý vật chứng và buộc bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nhận tội và công nhận quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo là đúng và không có ý kiến tranh luận, trong lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Công an thành phố Thanh hóa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà hôm nay bị cáo đã khai nhận: Do bản thân nghiện ma túy, nên khoảng 23 giờ ngày 11/10/2020, Nguyễn Thanh T đã nhờ một người xe ôm (không rõ lai lịch) mua ma túy giúp cho bị cáo với mục đích sử dụng. Sau đó khoảng 00 giờ 00 phút ngày 12/10/2020, bị cáo đi đến khu vực gần nhà nghỉ Hoàng Gia, ở địa chỉ Số nhà 254 Dương Đình Nghệ, phường Đông Thọ, Thành phố Thanh Hóa, thì bị tổ công tác phòng PK 02, Công an tỉnh Thanh Hóa kiểm tra, phát hiện
3
thu giữ vật chứng gồm 0,492 gam ma túy loại Ketamin và 0,692 gam ma túy, loại MDMA. Lời khai của bị cáo tại phiên toà hôm nay thống nhất với lời khai trước đây bị cáo đã khai nhận tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi mua ma túy tàng trữ với mục đích sử dụng của bị cáo có đủ các yếu tố cấu thành tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, do bị cáo đang có các tiền án về tội “ Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, do đó bị cáo phải chịu tình tiết định khung là tái phạm nguy hiểm. Tội danh và khung hình phạt được quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của BLHS như cáo trạng và quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở, đúng pháp luật.
Xét tính chất vụ án, mức độ phạm tội và trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Xét hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi những hậu quả rất nghiêm trọng do việc mua bán, vận chuyển, nghiện chất ma tuý gây ra. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, bị cáo hiểu rõ về tác hại của ma túy nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, do đó cần phải được xử lý nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và có tính phòng ngừa chung.
Xét các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, vì các tiền án của bị cáo là tình tiết định khung quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 BLHS. Tuy nhiên bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy và có nhân thân xấu, nay bị cáo lại tiếp tục tàng trữ trái phép chất ma túy, điều đó chứng tỏ bị cáo không chịu rèn luyện bản thân, xem thường pháp luật, nên cần phải được xử lý nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, nên khi quyết định hình phạt cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Do bị cáo tàng trữ ma túy với mục đích sử dụng, nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo để sung quỹ Nhà nước là phù hợp pháp luật.
Về vật chứng: Toàn bộ số ma túy thu của bị cáo được niêm phong là vật Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại khoản 1, điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên
4
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Xử phạt: Nguyễn Thanh T 06 năm 06 tháng tù ( Sáu năm sáu tháng tù). Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/10/2020
Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy một phong bì ma túy, được niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Tỉnh Thanh Hóa theo biên bản giao nhận vật chứng số 103/THA ngày 22 tháng 02 năm 2021 giữa Công an Thành phố Thanh Hóa và Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Thanh hóa.
Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí HSST.
Người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 7 và điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND TP. Thanh Hóa; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - Công an TP. Thanh Hóa; - Chi cục THADS TP. Thanh Hóa; - Lưu hồ sơ. 5 6 | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( Đã ký) Lê Thị Tân |