- Tranh chấp gì? án hình sự — "BC: Lò Văn Văn, Lò Văn Tinh - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lò Văn T và bị cáo Lò Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 129/2021/HS-ST Ngày 05 - 8 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bằng
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hải Hà
Bà Đỗ Thị Hải
- Thư ký phiên tòa: Bà Quàng Thị Thu - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ tham gia phiên toà: Bà Trịnh Thị Duyên - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 8 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 115/2021/HSST ngày 10 tháng 6 năm 2021, quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 129/2021/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 7 năm 2021, đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Lò Văn T (Tên gọi khác: Không) - Sinh năm: 1994; nơi sinh: Tại tỉnh Điện Biên; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở trước ngày bị bắt: Bản H, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lò Văn P - Sinh năm: 1965 và bà Lò Thị P - sinh năm: 1965; bị cáo có vợ Vì Thị T - sinh năm: 1993; bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/3/2021, sau đó bị tạm giam cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên toà.
2. Họ và tên: Lò Văn V (Tên gọi khác: Không) - Sinh năm: 1968; nơi sinh: Tại tỉnh Điện Biên; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở trước ngày bị bắt: Bản H, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 04/10; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lò Văn P1 - Sinh năm: 1947 và bà Lò Thị Đ - Đã chết; bị cáo sống như vợ chồng với bà Lò Thị B; bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1991, con nhỏ nhất sinh năm 1999; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/3/2021, sau đó bị tạm giam cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Vì Thị T - Sinh năm 1993; Địa chỉ: Bản H, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 19/3/2021 tại khu vực bản S, xã P, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên, Công an xã P, thành phố Đ phát hiện Lò Văn T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 27B1 - 675.59, chở Lò Văn V có biểu hiện phạm tội, tổ công tác tiến hành kiểm tra, phát hiện trong ốp điện thoại Iphone 6s của T cất tại túi áo ngực bên trái đang mặc 01 gói nilon màu xanh, chứa 0,16 gam heroine. Bị cáo T và bị cáo V khai, khoảng 15 giờ cùng ngày, V rủ T đi mua ma túy về sử dụng, T chở V đến khu vực bản Lọng Luông, xã Mường Phăng, dừng xe T đưa cho V 50.000đ và đứng chờ, V lấy thêm 50.000đ của mình, đi bộ vào trong bản, mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói heroine với giá 100.000đ. Sau khi mua được ma túy V và T cùng sử dụng một ít ma túy, số ma túy còn lại V đưa cho T cất giấu mục đích để cả hai cùng sử dụng, trên đường về thì bị phát hiện.
Tại Bản kết luận giám định số 335/GĐ-PC09 ngày 25/03/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên, kết luận: Mẫu chất bột màu trắng ký hiệu M gửi giám định là chất ma túy: Loại Heroine. Khối lượng vật chứng 0,16 gam. Heroine nằm trong danh mục các chất ma túy, STT: 9, Mục IA, Danh mục I, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018;
Tại Bản cáo trạng số: 63/CT-VKSTPĐBP ngày 08/6/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Lò Văn T và Lò Văn V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, tỉnh Điện Biên giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố và khẳng định hành vi trên của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lò Văn T và bị cáo Lò Văn V mỗi bị cáo từ 15 tháng đến 18 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2; điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 0,13 gam Heroine (là vật chứng còn lại sau giám định); 01 mảnh nilon màu xanh.
Tịch thu, sung ngân sách nhà nước: ½ giá trị chiếc điện thoại di động nhãn hiệu I PHONE 6S, màu trắng; ½ giá trị chiếc xe mô tô nhãn hiệu ESPERO, số loại 120 w, màu sơn đen biển kiểm soát 27B1-675.59, kèm theo chìa khóa điện của xe và 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 050839 mang tên Lò Văn T đăng ký cho xe mô tô BKS 27B1675.59.
Trả lại cho bà Vì Thị T ½ giá trị chiếc điện thoại di động nhãn hiệu I PHONE 6S, màu trắng; ½ giá trị chiếc xe mô tô nhãn hiệu ESPERO, số loại 120 w, màu sơn đen biển kiểm soát 27B1-675.59.
Về án phí: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 2 Điều 136 của BLTTHS và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
Tại phiên tòa bà Vì Thị T trình bày: Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu I PHONE 6S, màu trắng và chiếc xe mô tô nhãn hiệu ESPERO, số loại 120 w, màu sơn đen biển kiểm soát 27B1-675.59 là tài sản chung của bà và bị cáo Lò Văn T vì các tài sản này hình thành trong thời kỳ hôn nhân. Bà T không biết bị cáo sử dụng các tài sản trên vào việc phạm tội, bà đề nghị Hội đồng xét xử trả lại các tài sản trên cho bà theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, các bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát và lời luận tội của Đại diện Viện kiểm sát không có tranh luận gì.
Lời nói sau cùng của các bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Các bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định: Hồi 18 giờ 00 phút ngày 19/3/2021 tại khu vực bản S, xã P, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên, Lò Văn T và Lò Văn V đã có hành vi cất giấu trái phép 0,16 gam Heroine trong ốp điện thoại I PHONE 6S của T cất tại túi áo ngực bên trái T đang mặc với mục đích để cả hai bị cáo sử dụng. Hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Về tính chất, mức độ, động cơ hành vi phạm tội của các bị cáo: Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi phạm tội của các bị cáo có tính chất đồng phạm giản đơn theo quy định tại Điều 17 của BLHS. Trong vụ án bị cáo V vừa là người khởi xướng vừa là người trực tiếp mua ma túy, bị cáo T là người sử dụng xe máy chở Văn đi mua ma túy và là người cất giấu ma túy nên các bị cáo đều là người thực hành, có vai trò ngang nhau. Các bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy đối với bản thân và cộng đồng cũng như nhận thức được chính sách pháp luật hình sự của nhà nước đối với những hành vi mua bán, tàng trữ ... trái phép chất ma túy nhưng để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân, các bị cáo đã bất chấp các quy định của pháp luật, cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội lớn, không những xâm phạm những quy định của nhà nước về chế độ quản lý, sử dụng các chất ma túy mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn thành phố Đ. Do vậy, cần phải áp dụng một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục và phòng ngừa tội phạm.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trước khi thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, các bị cáo không có tiền án, tiền sự.
Tại giai đoạn điều tra, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Từ những phân tích nêu trên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ đã truy tố và kết luận các bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS xử phạt bị cáo Lò Văn T và bị cáo Lò Văn V mỗi bị cáo từ 15 tháng đến 18 tháng tù là có căn cứ, đúng pháp luật, bị cáo không bị oan.
Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính các bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự, tuy nhiên các bị cáo làm ruộng, thu nhập không ổn định, không có tài sản có giá trị. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Các vấn đề khác:
Đối với người nam giới, bị cáo Văn khai là người bán ma túy cho bị cáo, do không xác định được họ tên, địa chỉ của người nam giới nên không đề cập xử lý trong vụ án.
Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 0,13 gam Heroine (là vật chứng còn lại sau giám định), do là vật cấm tàng trữ. 01 mảnh túi nilon màu xanh, do không có giá trị.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu ESPERO, số loại 120 w, màu sơn đen biển kiểm soát 27B1-675.59, kèm theo chìa khóa điện của xe và 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 050839 mang tên Lò Văn T đăng ký cho xe mô tô BKS 27B1675.59, số máy VDEJQ152FMJ104499, số khung RPEXCE8PEHA104499 và một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 6S là tài sản chung của bị cáo T và vợ là bà Vì Thị T, do là tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân. Ngày 19/3/2021, bị cáo sử dụng chiếc xe mô tô, sử dụng chiếc điện thoại di động vào việc phạm tội, bà T không biết nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: ½ giá trị chiếc xe mô tô kèm chìa khóa và Giấy đăng ký xe, ½ giá trị chiếc điện thoại di động; Trả lại cho bà Vì Thị T ½ giá trị chiếc xe, ½ giá trị chiếc điện thoại di động.
Về án phí: Các bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, áp dụng khoản 2 Điều 136 của BLTTHS và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự;
1. Tuyên bố bị cáo Lò Văn T và bị cáo Lò Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Lò Văn T 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (ngày 19/3/2021).
Xử phạt bị cáo Lò Văn V 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (ngày 19/3/2021).
2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 0,13 gam Heroine (là vật chứng còn lại sau giám định); 01 mảnh túi nilon màu xanh.
- Tịch thu, sung ngân sách nhà nước:½ giá trị chiếc xe mô tô nhãn hiệu ESPERO, số loại 120 w, màu sơn đen, BKS 27B1-675.59, số máy VDEJQ152FMJ104499, số khung RPEXCE8PEHA104499 xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong (kèm theo chìa khóa điện của xe và 01 (một) chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 050839 mang tên Lò Văn T đăng ký cho xe mô tô BKS 27B1675.59; ½ giá trị chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 6S, màu trắng, mặt sau được ốp bằng vỏ ốp nhựa màu nâu đen, trên mặt vỏ ốp có chữ Ferrari, màn hình có ốp cường lực bị vỡ, điện thoại đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong.
- Trả lại cho bà Vì Thị T: ½ giá trị chiếc xe mô tô nhãn hiệu ESPERO, số loại 120 w, màu sơn đen, BKS 27B1-675.59, số máy VDEJQ152FMJ104499, số khung RPEXCE8PEHA104499; ½ giá trị chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 6S, màu trắng.
(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 10/6/2021 giữa cơ quan cảnh sát điều tra, Công an thành phố Đ và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đ).
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của BLTTHS và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (05/8/2021).
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Điện Biên; - TAND tỉnh Điện Biên; - Sở tư pháp; - VKSND thành phố ĐBP; - CA thành phố ĐBP; - Nhà Tạm giữ Công an TP.ĐBP; - Hồ sơ THA hình sự; - Chi cục THADS TP ĐBP; - Bị cáo; - Người có QLNVLQ; - Lưu: VP, hồ sơ vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHÊN TÒA Nguyễn Thị Bằng |