- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ TP chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Minh T phạm tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự Bị cáo; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ M TỈNH QUẢNG NINH ----------------------------- | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 129/2021/HS-ST Ngày: 18 - 11 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ M, TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Sự,
2. Bà Đinh Thanh Hoàn
Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Hoàng Sơn, thư ký Toà án nhân dân thành phố M, tỉnh Quảng Ninh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố M tham gia phiên toà: Ông Vương Hải Nam , Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố M xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 128/2021/TLST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2021 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 127/2021/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Minh T, tên gọi khác không, sinh ngày 02 tháng 9 năm 1988, tại huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh. Nơi ĐKHK: Thôn 8, xã H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh, Nơi cư trú: Khu 5, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn V và bà Hoàng Thị N; Vợ là Nguyễn Thị T và 02 con đều sinh năm 2009 ; Tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân: Ngày 24/7/2018 bị Tòa án nhân dân thành phố M xử phạt 15 tháng tù về tội “ tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt ngày 13/6/2019.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, giam từ ngày 03/08/2021. Có mặt tại phiên tòa
* Người chứng kiến: Anh Nguyễn Văn C. Vắng mặt tại phiên tòa.
* Người làm chứng chị Dư Thị H. Vắng mặt tại phiên tòa
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 03/8/2021, Tổ công tác của Công an phường H, thành phố M kiểm tra hành chính tại nhà trọ của Trần Minh T thuộc Khu 5, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh, đã phát hiện bắt quả tang T về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Vật chứng thu giữ của T: 01 chiếc hộp màu đen bên trong có 01 túi nilon kích thước (10x6)cm đựng 05 túi nilon kích thước (2,5x2,5)cm đều chứa chất tinh thể màu trắng, 01 chiếc nỏ thuỷ tinh. Ngoài ra còn tạm giữ của Thắng 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone.
Quá trình điều tra T khai nhận: Do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên ngày 31/7/2021, Trần Minh T gọi điện thoại hỏi mua 02 triệu đồng ma tuý “đá” của đối tượng tên là Q ở Hải Phòng (không rõ lai lịch, địa chỉ). Q đồng ý bán và bảo T chuyển tiền qua tài khoản cho Q, còn Q chuyển ma tuý cho T qua xe khách. Sau đó, T đi ra khu vực chợ Trung tâm thành phố M, nhờ một người phụ nữ không quen biết chuyển khoản 02 triệu đồng cho Q. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, T đến khu vực Cổng chào Khu 7, phường H, thành phố M, nhận 01 gói bánh bên trong có 05 túi ma tuý, do Q chuyển thông qua 01 xe ô tô khách loại 16 chỗ (không rõ biển kiểm soát). Sau khi mua được ma tuý, Thắng mang về nhà trọ tại Khu 5, phường H, cất giấu vào trong chiếc hộp nhựa màu đen, phủ lớp bông màu vàng lên và để trên nắp bể cá trong phòng khách, để sử dụng dần.
Tại bản Kết luận giám định số 1433/KLGĐ ngày 08/8/2021, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: Chất tinh thể màu trắng trong 05 túi nilon thu giữ của Trần Minh T là ma túy, loại Methamphetamine, tổng khối lượng 1,95 (một phẩy chín năm) gam
Tại bản cáo trạng số 131/CT-VKSMC ngày 28 tháng 10 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố M truy tố bị cáo Trần Minh T về tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
Người làm chứng chị H vắng mặt tại phiên tòa có lời khai tại cơ quan điều tra xác nhận: Tháng 7/2021 chị và anh T có thuê nhà trọ để chung sống với nhau như vợ chồng. Khoảng 10 giờ ngày 03/8/2021 khi chị và anh T đang ở nhà thì có lược lượng Công an phường H đến kiểm tra hành chính, Quá trình kiểm tra Công an phát hiện và thu giữ 01 chiếc hộp màu đen ở trên bể cá bên trong có 01 nỏ thủy tinh, 01 túi nilon đựng 05 túi nilon khác đều chứa chất tinh thể màu trắng, Thắng khai chất tinh thể màu trắng là ma túy đá T mua về để sử dụng.
Người chứng kiến anh Nguyễn Văn C vắng mặt tại phiên tòa có lời khai tại cơ quan điều tra xác nhận khoảng 10 giờ ngày 03/8/2021 anh được công an phường H mời chứng kiến sự việc Công an phường lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trần Minh T về hành vi tàng trữ chất ma túy phù hợp với lời khai người làm chứng
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố tại bản cáo trạng về tội danh và khung hình phạt đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và đề xuất mức hình phạt đối với bị cáo Trần Minh T từ 21 tháng đến 24 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo
Về vật chứng: áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủy số ma túy hoàn lại sau giám định; 01 chiếc nỏ thủy tinh, 01 hộp nhựa màu đen. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước chiếc điện thoại thu giữ của bị cáo.
Bị cáo, không tranh luận gì với nội dung của bản luận tội và thừa nhận việc truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội.
Căn cứ quá trình tranh tụng, các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, Bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng
Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản bắt quả tang, vật chứng thu giữ, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và công bố công khai tại phiên toà, Hội đồng xét xử kết luận: Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 03/8/2021, tại Khu 5, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh, Trần Minh T có hành vi tàng trữ trái phép 1,95 (một phẩy chín năm) gam Methamphetamine, mục đích để sử dụng.
Hành vi tàng trữ trái phép ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý. Bị cáo là người trưởng thành, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, Như vậy hành vi của bị cáo đã có đủ các yếu tố cấu thành của tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Viện kiểm sát nhân dân thành phố M truy tố bị cáo với tội danh và điều luật như trên là có căn cứ và đúng pháp luật
Xét tính chất mức độ phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bản thân bị cáo năm 2018 đã bị xử phạt tù cũng về tội tràng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội do vậy cần thiết phải áp dụng mức hình phạt tù, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để bị cáo lấy đó làm bài học mà tu dưỡng, rèn luyện, cải tạo mình trở thành người công dân có ích.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Hội đồng xét xử thấy bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự . Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về hình phạt bổ sung là hình phạt tiền: Xét bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo
Về vật chứng: Số ma túy thu giữ của bị cáo hoàn lại sau giám định là vật nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy. Các vật chứng khác gồm 01 chiếc nỏ thủy tinh, một hộp nhựa màu đen thu giữ, bị cáo dùng để cất dấuvà sử dụng ma túy nên tịch thu tiêu hủy. 01 thẻ sim lắp trong chiếc điệnt hoại thu giữ của bị cáo không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy. Chiếc điện thoại thu giữ, bị cáo dùng liên lạc mua ma túy nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
Về các đối tượng có liên quan đến vụ án gồm người đàn ông tên Q là người bán ma túy cho T quá trình điều tra không xác định được lai lịch, Cơ quan Điều tra cũng đề nghị tổng công ty viễn thông Mobifone xác minh chủ thuê bao của số điện thoại đã bán ma túy cho bị cáo nhưng chưa có kết quả trả lời, Cơ quan Điều tra tiếp tục xác minh điều tra xử lý sau. Người phụ nữ chuyển tiền mua ma túy cho bị cáo và lái phụ xe khách vận chuyển ma túy cho bị cáo quá trình điều tra không xác định được lai lịch nên không xét.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Trần Minh T phạm tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Minh T: 24 (hai bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03 tháng 8 năm 2021.
- Áp dụng: Điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
+ Tịch thu tiêu hủy số ma túy có trong 01 phong bì được niêm phong có ghi số 1433/KLGĐ.
+ Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc nỏ thủy tinh dài 15cm;01 hộp nhựa màu đen bên trên mặt hộp phủ bông màu vàng
+ Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu hồng.
+ Tịch thu tiêu hủy 01 thẻ sim nắp trong chiếc điện thoại trên.
( Tình trạng các vật chứng thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng số 09/2022 ngày 01/11/2021 giữ Công an thành phố M với chi cục Thi hành án dân sự thành phố M)
- Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án
Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 331, khoản 1,3 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: TAND tỉnh Quảng Ninh; - VKSND tỉnh QN, TPMC - Cq Điều tra TPMC; - Cq Thi hành án TPMC - Trại tạm giam ( nơi bị cáo giam giữ) - Thi hành án HS, DS - Bị cáo; - Lưu án văn; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Trần Thị Thu Nga |