vanban.org

Bản án 129/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Phạm Thị Trường An được ly hôn ông Nguyễn Phú Cường. Giấy chứng nhận kết hôn số 127/2015, Quyển số 01/2015 ngày 16/7/2015 của Ủy ban nhân dân phường Mỹ Hòa, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang cấp mang tên Nguyễn Phú Cường và Phạm Thị Trường An không còn giá trị… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp mâu tuẫn gia đình"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LONG XUYÊN
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 129/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 31 - 5 - 2021
V/v tranh chấp: “Hôn nhân và gia đình,
Ly hôn, nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân Thu.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Tuyết Hồng.

2. Bà Lê Thị Thanh Vân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trương Phi – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

Ngày 31 tháng 5 năm 2020, tại Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 123/2021/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2021 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình - Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 167/2021/QĐXXST-HNGĐ, ngày 15 tháng 4 năm 2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Trường An, sinh năm 1986; có yêu cầu vắng mặt.

Địa chỉ: Tổ 03, khóm Vĩnh Tân, phường Vĩnh Nguơn, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Phú Cường, sinh năm 1991, vắng mặt.

Địa chỉ: Số 788/9, khóm Tây Khánh 5, phường Mỹ Hòa, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 23 tháng 02 năm 2021, bản tự khai cùng các lời khai trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn là bà Phạm Thị Trường An trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Phú Cường qua quá trình tìm hiểu quen biết nhau, sau đó cả hai quyết định tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới vào ngày 08/3/2014 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Mỹ Hòa, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang vào ngày 16/7/2015. Hôn nhân lần thứ nhất của bà và ông Cường. Sau khi kết hôn, ông bà chung sống hạnh phúc đến tháng 12 năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cách sống, tính tình không phù hợp nhau nên thường xuyên cự cãi. Vì vậy cả hai đã chính thức ly thân từ tháng 12 năm 2019 đến nay; trong thời gian sống ly thân, vợ chồng không một lần tới lui.

- Về quan hệ con chung: Ông bà có một con chung tên Nguyễn Ngọc Nhã Uyên, sinh ngày 27/09/2015. Hiện nay, con chung đang do bà An trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục kể từ khi vợ chồng chính thức ly thân cho đến nay.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà An trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nhận thấy tình cảm của bà dành cho ông Cường không còn nên bà có yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Cường. Về con chung, bà yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi con chung tên Nguyễn Ngọc Nhã Uyên, sinh ngày 27/09/2015; bà không yêu cầu ông Cường cấp dưỡng cho con. Về tài sản chung và nợ chung: Bà An trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là ông Nguyễn Phú Cường đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án nhưng vẫn không gửi văn bản nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án đã triệu tập ông Cường đến tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên hòa giải đến lần thứ hai; triệu tập đến tham dự phiên tòa đến lần thứ hai nhưng ông Cường vẫn vắng mặt không rõ lý do.

Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án,

Nguyên đơn bà Phạm Thị Trường An có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt đề ngày 15 tháng 4 năm 2021 với lý do bận công việc.

Bị đơn ông Nguyễn Phú Cường vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật: Bà Phạm Thị Trường An khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Phú Cường và có yêu cầu Tòa án giải quyết về quyền nuôi con chung nên quan hệ tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình - Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn của vụ án là ông Nguyễn Phú Cường có đăng ký hộ khẩu thường trú tại số 788/9, khóm Tây Khánh 5, phường Mỹ Hòa, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang nên căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho ông Nguyễn Phú Cường theo quy định tại Điều 171, Điều 175, Điều 177 và Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng ông Cường vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Xét thấy, sự vắng mặt của ông Cường không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của ông và cũng không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt ông Cường là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bà Phạm Thị Trường An có yêu cầu vắng mặt tại phiên tòa nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bà An là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 227; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Phạm Thị Trường An và ông Nguyễn Phú Cường. [2] Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Phạm Thị Trường An trình bày, sau khi tìm hiểu nhau về mặt tình cảm thì bà với ông Cường quyết định thành vợ chồng. Ông bà có tổ chức lễ cưới vào ngày 08/3/2014 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Mỹ Hòa, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang vào ngày 16/7/2015. Sau khi kết hôn, ông bà chung sống hạnh phúc đến tháng 12 năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cách sống, tính tình vợ chồng không phù hợp nhau nên cả hai thường xuyên cự cãi. Chứng minh cho lời trình bày trên, bà An có cung cấp cho Tòa án Giấy chứng nhận kết hôn số 127/2015; Quyển số 01/2015 của UBND phường Mỹ Hòa, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang và Giấy khai sinh của cháu Nguyễn Ngọc Nhã Uyên, sinh ngày 27/09/2015. Như vậy, bà An đã thực hiện nghĩa vụ chứng minh của mình theo quy định tại khoản 1 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Ngược lại, trong suốt quá trình giải quyết vụ án, mặc dù Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định nhưng ông Nguyễn Phú Cường vẫn không gửi văn bản nêu ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cũng không tham dự phiên tòa, không cung cấp bất kỳ chứng cứ nào để chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, lời trình bày và chứng cứ mà bà An cung cấp là cơ sở để Tòa án xác định hôn nhân giữa bà Phạm Thị Trường An và ông Nguyễn Phú Cường là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận nhưng vì mâu thuẫn gia đình không thể hàn gắn làm cho vợ chồng không còn chung sống, không quan tâm, chăm sóc, lo lắng cho nhau kể từ tháng 12 năm 2019 đến nay là có thật; cho thấy ông bà đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, bà An có yêu cầu được ly hôn ông Cường là hoàn toàn phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được Tòa án chấp nhận.

Về quan hệ con chung: Bà An xác định trong quá trình chung sống, bà với ông Cường có một con chung tên Nguyễn Ngọc Nhã Uyên, sinh ngày 27/09/2015. Xét thấy, từ khi vợ chồng không còn chung sống cho đến nay, cháu Uyên sống chung cùng mẹ là bà An; dưới sự chăm sóc, giáo dục của bà An thì cháu Uyên sinh sống ổn định và phát triển bình thường, cho thấy bà An có đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Uyên. Do đó, việc bà An yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi cháu Uyên là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được Tòa án chấp nhận. Ngoài ra, theo quy định tại khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì sau khi ly hôn, ông Cường vẫn có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con chung, do bà An không yêu cầu ông Cường cấp dưỡng nuôi con chung nên Tòa án không xem xét, giải quyết. Tuy nhiên, vì quyền lợi của con, khi cần thiết một hoặc hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng cho con.

Về quan hệ tài sản chung: Bà An trình bày vợ chồng không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; vì vậy Tòa án không xem xét giải quyết nhưng nếu sau này các bên chứng minh vợ chồng có tài sản chung trong thời hôn nhân mà không tự thỏa thuận phân chia được thì có quyền khởi kiện yêu cầu chia tài sản sau khi ly hôn ở vụ án dân sự khác.

Về quan hệ nợ chung: Bà An trình bày vợ chồng không nợ ai và cũng không ai nợ vợ chồng nên không có yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy Tòa án cũng không xem xét giải quyết nhưng nếu sau này có bên thứ ba bất kỳ chứng minh được nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì bà An vẫn phải cùng ông Cường liên đới chịu trách nhiệm trong vụ án dân sự khác. [3] Về án phí: Bà An phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không giá ngạch đối với yêu cầu ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà An đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007525 ngày 03/3/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Ông Cường không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1, khoản 2 Điều 91; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; Điều 54; khoản 1 Điều 56; Điều 57, Điều 58, Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Phạm Thị Trường An được ly hôn ông Nguyễn Phú Cường.

Giấy chứng nhận kết hôn số 127/2015, Quyển số 01/2015 ngày 16/7/2015 của Ủy ban nhân dân phường Mỹ Hòa, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang cấp mang tên Nguyễn Phú Cường và Phạm Thị Trường An không còn giá trị pháp lý.

2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Ngọc Nhã Uyên, sinh ngày 27/09/2015 cho bà An được quyền tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung thành niên, trừ trường hợp thay đổi quyền nuôi con theo quy định pháp luật. Ông Cường không phải cấp dưỡng nuôi con chung, do bà An không yêu cầu.

Bà An cùng các thành viên trong gia đình phải tạo điều kiện cho ông Cường được thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai có quyền ngăn cấm. Việc nuôi con chung không cố định. Vì quyền lợi của con, khi cần thiết một hoặc hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng cho con.

3. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí: Bà An phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không giá ngạch đối với yêu cầu ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà An đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007525 ngày 03/3/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Ông Nguyễn Phú Cường không phải chịu án phí.

Trường hợp Bản án được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ