vanban.org

Bản án 129/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Giãng Thị N-Nguyễn Văn D"
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử lý; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH!CÀ!MAU
Bản án số: 129/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 14-8-2020

V/v ly hôn

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!THỚI!BÌNH,!TỈNH!CÀ!MAU!

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kiều Trang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Quốc Văn

Ông Đặng Hoàng Thành

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Hồng Như là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

Ngày 14 tháng 8 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 247/2020/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 5 năm 2020 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 162/2020/QĐXX-ST ngày 01 tháng 7 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Giãng Thị N, sinh năm 1965 (có yêu cầu xin vắng mặt)

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1968 (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Ấp A, xã TLĐ, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!

*Tại đơn khởi kiện ngày 28/4/2020, bà Giãng Thị N trình bày:

Bà N và ông D tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn vào ngày 19/10/2004 tại Uỷ ban nhân dân xã TLĐ, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm với nhau trong cuốc sống, hôn nhân không thể kéo dài nên bà N yêu cầu ly hôn với ông D.

1

Con chung đã trưởng thành, tài sản chung đã tự thỏa thuận, nợ chung không có nên bà N không yêu cầu giải quyết.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Bà Giãng Thị N khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn D. Do anh chị chung sống có đăng ký kết hôn theo quy định nên đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn; ông D có địa chỉ tại ấp A, xã TLĐ, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của bà N thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án có tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông D nhưng ông D vắng mặt tại các lần xét xử không có lý do. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông D theo quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bà N có yêu cầu xin vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà N theo khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về hôn nhân: Bà Giãng Thị N và ông Nguyễn Văn D tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TLĐ, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau vào ngày 19/10/2004. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa ông bà đã tuân thủ về điều kiện đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 8, 9 của luật hôn nhân và gia đình nên được pháp luật thừa nhận là vợ chồng. Quá trình thụ lý giải quyết vụ án bà N yêu cầu ly hôn với ông D. Xét thấy, thời gian bà N và ông D chung sống với nhau có phát sinh mâu thuẫn nên vợ chồng đã ly thân từ tháng 6/2018 đến nay có xác nhận của địa phương. Mặt khác, Tòa án có tổ chức hòa giải để ông bà có điều kiện gặp nhau thỏa thuận thỏa thuận đoàn tụ gia đình nhưng không có kết quả do bà N vẫn bảo lưu quan điểm yêu cầu ly hôn với ông D và ông D vắng mặt tại các lần hòa giải, xét xử không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử lý cho bà Giãng Thị N và ông Nguyễn Văn D được ly hôn.

[4] Về con chung: Con chung đã trưởng thành và bà N không yêu cầu giải quyết là có cơ sở nên Hội đồng xét xử không xem xét.

2

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Tại đơn khởi kiện cũng như quá trình giải quyết vụ án, bà N không yêu cầu giải quyết về tài sản chung và nợ chung. Bởi vì, bà N cho rằng tài sản chung bà và ông D tự thỏa thuận xong, nợ chung không có, tại xác nhận ngày 05/5/2020 của Ủy ban nhân dân xã TLĐ xác nhận đến thời điểm ngày 05/5/2020 Ủy ban xã không nhận đơn yêu cầu về nợ đối với ông D và bà N. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xét là phù hợp.

[6] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Giãng Thị N phải chịu án phí – Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT!ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các điều 56, 59 của luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1.Xét xử vắng mặt đối với bà Giãng Thị N và ông Nguyễn Văn D.

2.Về hôn nhân: Bà Giãng Thị N và ông Nguyễn Văn D được ly hôn.

3. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Giãng Thị N phải nộp 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng). Vào ngày 08 tháng 5 năm 2020 bà N có dự nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0011164 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau nay được chuyển thu án phí.

4.Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Bản án này là sơ thẩm, báo cho đương sự biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án.

3

Cỡ chữ