vanban.org

Bản án 129/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Tuyên án 23/07/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Về trách nhiệm hình sự: Tuy n bố bị cáo Phạm Tuấn E phạm tội “T ng trữ trái phép chất ma túy”.

2/ Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Phạm Tuấn E 01 (một) năm tù, thời hạn chấp h nh hình phạt tù tính từ ng y 28/12/2018. 3/ Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Về trách nhiệm hình sự: Tuy n bố bị cáo Phạm Tuấn E phạm tội “T ng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 129/2019/HS - ST
Ngày: 23-7-2019.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông L Minh Đạo.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Ngọc Dũng.

2/ Ông Võ Hùng Dương.

Thư ký phi n tòa: Ông Phạm Anh Duy – Thư ký Tòa án nhân dân th nh phố Thủ Dầu Một.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân th nh phố Thủ Dầu Một tham gia phi n tòa: Bà Nguyễn Mai Hường - Kiểm sát vi n.

Ng y 23 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân th nh phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 119/2019/TLST – HS ngày 21 tháng 6 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 132/2019/QĐXXST – HS ngày 10 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ v t n: Phạm Tuấn E, sinh ngày 09/7/1993. Tại: Cần Thơ. Nơi ĐKHKTT: Ấp Đ, xã TT, huyện TL, th nh phố Cần Thơ; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Phạm Văn L và bà Nguyễn Thị L1; Vợ: Trần Thị M, có 01 con sinh năm 2013. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ ng y 28/12/2018 v tạm giam cho đến nay; Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: B Nguyễn Thị TN, sinh năm 1996. Địa chỉ: Phường C, th nh phố Cần Thơ; Vắng mặt.

Người làm chứng: Tạ Minh H (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các t i liệu có trong hồ sơ vụ án v diễn biến tại phi n tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 03 giờ 30 phút, ng y 28/12/2018, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an th nh phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương đi tuần tra tr n tuyến đường hẻm x, khu xx, phường C, th nh phố M phát hiện 01 xe mô tô biển số 61C1-72x.xx đỗ ở đường hẻm không có người trông coi n n lực lượng tuần tra đi v o dãy nh trọ tìm chủ sở hữu. Khi đi đến phòng trọ số 02 phát hiện Phạm Tuấn E v Tạ Minh H sinh năm 1999, ngụ tại xã Q, huyện ĐL, tỉnh Đăk Nông có biểu hiện nghi vấn n n đã kiểm tra Tạ Minh H và Phạm Tuấn E. Qua kiểm tra phát hiện Phạm Tuấn E đang t ng trữ 01 viên nén màu vàng xanh có logo “LV” trong túi quần Jean phía sau b n phải. Cùng lúc, lực lượng tuần tra đã y u cầu Tuấn E về trụ sở Công an phường C để l m việc, thu giữ: 01 viên nén màu vàng xanh có logo “LV”; 01 xe mô tô biển số 61Cx - 72x.xx có số khung 338xxx, số máy 038xxx.

Quá trình điều tra, Phạm Tuấn E khai nhận: Khoảng 01 giờ 30 phút ng y 28/12/2018, Phạm Tuấn E đến quán bar F thuộc phường P, th nh phố M để dự sinh nhật của bạn (không rõ nhân thân, lai lịch). Khi đang dự sinh nhật bạn trong quán bar, Tuấn E gặp nam nhân vi n phục vụ quán (không rõ nhân thân, lai lịch) hỏi có bán ma túy không thì người nam nhân vi n nói có bán v hỏi Tuấn E muốn mua bao nhi u?. Tuấn E nói mua 01 vi n thuốc lắc, người nam nói giá tiền 350.000 đồng/1 vi n, Tuấn E đồng ý mua v đưa cho người nam số tiền 350.000 đồng. Cùng lúc, người nam cầm tiền v đưa cho Tuấn E 01 gói nylon chứa 01 vi n nén màu vàng xanh có logo “LV”. Sau khi mua ma túy xong, Tuấn E cất giấu gói nylon chứa 01 vi n nén m u v ng xanh có logo “LV” v o túi quần phía sau b n phải rồi tiếp tục dự sinh nhật. Đến khoảng 03 giờ 30 phát cùng ng y, Tuấn E điều khiển xe mô tô biển số 61Cx - 72x.xx từ quán bar F về phòng trọ tại phường C, th nh phố M. tỉnh Bình Dương. Khi về đến khu nh trọ, Tuấn E dựng xe mô tô biển số 61Cx - 72x.xx ở đường hẻm trước khu nh trọ v đi bộ v o phòng trọ. Khi Tuấn E vừa v o trong phòng trọ thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Tuấn E cất giấu 01 gói nylon bên trong có 01 viên nén m u v ng xanh có logo “LV” trong túi quần phía sau b n phải.

Ngày 28/12/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an th nh phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương ra Quyết định trưng cầu giám định số: 115/QĐ-CQ.CSĐT gửi đến Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Dương để giám định đối với 01 phong bì niêm phong có chữ ký của người bị băt Phạm Tuấn E, chữ ký của người chứng kiến Tạ Minh H, cán bộ ni m phong Nguyễn Thanh T v hình dấu đỏ của Công an phường C, th nh phố M bên trong có 01 gói nylon chứa 01 vi n nén m u v ng xanh có logo “LV” thu giữ của Phạm Tuấn E. Ngày 04/01/2019 Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Dương có bản kết luận giám định số: 79/GĐ-PC54 kết luận: Mẫu vi n nén m u v ng xanh có logo “LV” gửi giám định l ma túy, có khối lượng (trọng lượng) 0,3245 gam, loại MDMA.

Đối với người nam phục vụ trong quá bar đã bán ma túy cho Phạm Tuấn E. Quá trình điều tra do không xác định được nhân thân, lai lịch n n Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an th nh phố Thủ Dầu Một tiếp tục xác minh l m rõ v xử lý sau.

Đối với Tạ Minh H. Quá trình điều tra xác định Tạ Minh H l bạn của Tuấn E, vào khoảng 03 giờ 30 phút, ng y 28/12/2018, H đi chơi về ngang qua phòng trọ của Tuấn E do điện thoại hết pin n n đã v o phòng trọ của Tuấn E để mượn xạc điện thoại. Việc Tuấn E t ng trữ trái phép chất ma túy trong người H không biết. Do vậy, không có căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với H về h nh vi t ng trữ trái phép chất ma túy.

Đối với 01 phong bì ni m phong có chữ ký của người bị băt Phạm Tuấn E, chữ ký của người chứng kiến Tạ Minh H, cán bộ ni m phong Nguyễn Thanh T v hình dấu đỏ của Công an phường C, th nh phố M b n trong không chứa ma túy (do mẫu vật đã được sử dụng hết cho công tác giám định). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an th nh phố Thủ Dầu Một đã chuyển Chi cục Thi h nh án th nh phố Thủ Dầu Một.

Đối với xe mô tô biển số 61Cx - 72x.xx. Quá trình điều tra xác định: xe mô tô tr n do chị Trần Bích N đứng t n tr n Giấy chứng nhận đăng ký xe. Chị N đã bán cho chị Nguyễn Thị TN sinh năm 1996, ngụ tại phường C, th nh phố Cần Thơ nhưng không l m giấy mua bán sang t n theo quy định m chị N chỉ l m hợp đồng ủy quyền cho chị TN to n quyền sử dụng v định đoạt chiếc xe tr n. Do Tuấn E l bạn của TN nên ngày 28/12/2018, chị TN cho Phạm Tuấn E mượn để đi l m, việc Tuấn E sử dụng xe đi mua ma túy chị TN không biết. Do vậy, ng y 02/01/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an th nh phố Thủ Dầu Một đã ra quyết định xử lý đồ vật, t i liệu trả lại cho chị Nguyễn Thị TN xe mô tô biển số 61Cx - 72x.xx có số khung 338xxx, số máy 038xxx. Chị TN không có y u cầu gì khác.

Cáo trạng số 135/CT – VKS - HS ngày 19/6/2019 của Viện kiểm sát nhân dân th nh phố Thủ Dầu Một truy tố bị cáo Phạm Tuấn E về tội “T ng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tại phi n tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân th nh phố Thủ Dầu Một trong phần tranh luận, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Phạm Tuấn E mức hình phạt từ 12 tháng đến 15 tháng tù.

Về biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử tuy n tịch thu ti u hủy 01 (một) bì thư ni m phong có chữ ký người bị bắt Phạm Tuấn E, cán bộ ni m phong Nguyễn Thanh T v hình dấu đỏ công an phường C, th nh phố M. B n trong có 01 gói nylon chứa viên nén m u xanh có logo “LV”, mẫu vật đã được phục vụ hết cho công tác giám định (theo kết luận giám định số 79/MT – PC09 ngày 04/01/2019).

Tại phi n tòa, bị cáo không có ý kiến tranh luận. Trong lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Tr n cơ sở nội dung vụ án, căn cứ v o các t i liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phi n tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về h nh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra vi n, Viện kiểm sát nhân dân th nh phố Thủ Dầu Một, Kiểm sát vi n trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra v tại phi n tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về h nh vi, quyết định của Cơ quan tiến h nh tố tụng, người tiến h nh tố tụng. Do đó, quyết định, h nh vi tố tụng của Cơ quan tiến h nh tố tụng, người tiến h nh tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phi n tòa, bị cáo đã khai nhận to n bộ h nh vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can, bi n bản ni m phong, kết luận giám định cùng những t i liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Ngày 28/12/2018, Phạm Tuấn E có h nh vi cất giữ trong người 0,3245 gram MDMA tại nh trọ thuộc địa b n phường C, th nh phố M, tỉnh Bình Dương nhằm mục đích sử dụng. Theo quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: …c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”. Như vậy, h nh vi của bị cáo đã phạm v o tội “T ng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân th nh phố Thủ Dầu Một truy tố bị cáo theo tội danh v điều khoản như tr n l có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Hành vi mà bị cáo thực hiện l nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động quản lý của Nh nước đối với chất ma túy. Hiện nay, tình hình nghiện hút chất ma túy đang diễn ra phức tạp trong mọi tầng lớp. Tệ nạn n y l mối quan tâm của to n xã hội, một trong những nguy n nhân dẫn đến tệ nạn n y chưa được đẩy lùi chính l có sự tiếp tay của bị cáo. Do đó, để có tác dụng giáo dục bị cáo ý thức tuân theo pháp luật, cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ của h nh vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có tác dụng giáo dục bị cáo trở th nh công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe v phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ th nh khẩn khai báo, ăn năn hối cải về h nh vi phạm tội của mình. Đây l tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Căn cứ v o nhân thân, tính chất mức độ phạm tội cũng như tình tiết giảm nhẹ, xét mức hình phạt m Đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.

Về biện pháp tư pháp: Tịch thu ti u hủy 01 (một) bì thư ni m phong có chữ ký người bị bắt Phạm Tuấn E, cán bộ ni m phong Nguyễn Thanh T v hình dấu đỏ công an phường C, th nh phố M. B n trong có 01 gói nylon chứa vi n nén m u xanh có logo “LV”, mẫu vật đã được phục vụ hết cho công tác giám định (theo kết luận giám định số 79/MT – PC09 ngày 04/01/2019).

Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ tr n,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 136, 260, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ng y 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý v sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1/ Về trách nhiệm hình sự: Tuy n bố bị cáo Phạm Tuấn E phạm tội “T ng trữ trái phép chất ma túy”.

2/ Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Phạm Tuấn E 01 (một) năm tù, thời hạn chấp h nh hình phạt tù tính từ ng y 28/12/2018.

3/ Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Tịch thu ti u hủy 01 (một) bì thư ni m phong có chữ ký người bị bắt Phạm Tuấn E, cán bộ ni m phong Nguyễn Thanh T v hình dấu đỏ công an phường C, th nh phố M. B n trong có 01 gói nylon chứa vi n nén m u xanh có logo “LV”, mẫu vật đã được phục vụ hết cho công tác giám định (theo kết luận giám định số 79/MT – PC09 ngày 04/01/2019).

(Thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng số 140.19 ngày 19/6/2019 giữa Chi cục Thi hành án dân sự và Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Thủ Dầu Một).

4/ Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ng y kể từ ng y tuy n án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ li n quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ng y kể từ ng y nhận được bản án hoặc ng y bản án được ni m yết công khai.

Cỡ chữ