vanban.org

Bản án 129/2019/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 03/06/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 03/06/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 01/2019/HS-ST ngày 17/01/2019 của Toà án nhân dân huyện L, tỉnh Thanh Hóa.

* Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 (đối với Phạm NV, Bùi Văn M, Phạm Văn P) Điều 51 Điều 38 Bộ luật Hình sự. * Xử phạt: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Ngọc V + đồng bọn phạm tội "Đánh bạc" - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 01/2019/HS-ST ngày 17/01/2019 của Toà án nhân dân huyện L, tỉnh Thanh Hóa.
  • Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 129/2019/HS - PT
Ngày 03/6/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Thanh Hùng

Các Thẩm phán:

Ông Dương Xuân Tuấn

Bà Hoàng Lan Phương

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Tuấn Thành - Thư ký Toà án nhân

dân tỉnh Thanh Hoá

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 60/2019/TLPT-HS ngày 04/3/2019 đối với bị cáo Phạm NV và các bị cáo khác do có kháng cáo của các bị cáo và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa, đối với bản án hình sự sơ thẩm số 01/2019/HS-ST ngày 17 tháng 01 năm 2019 của Toà án nhân dân huyện L, tỉnh Thanh Hoá.

- Bị cáo có kháng cáo:

1. Phạm NV, sinh năm 1972, tại huyện L, tỉnh Thanh Hoá.

Nơi cư trú: thôn H, xã K, huyện L, tỉnh Thanh Hoá; nghề nghiệp: thợ xây; trình độ văn hoá: 6/12; dân tộc: Mường; giới tính Nam; tôn giáo: không; quốc tịch Việt Nam; con ông Phạm Văn D (đã chết) và bà Phạm Thị S; có vợ Trần Thị H, có 02 con, lớn sinh năm 1993, nhỏ sinh năm 2005; tiền án: không, tiền sự: Ngày 03/01/2018 Công an huyện L xử phạt hành chính 1.500.000đ về hành vi đánh bạc (nộp tiền phạt ngày 19/9/2018); bị tạm giữ từ ngày 11/9/2018 đến ngày 16/9/2018 được thay thế biện pháp ngăn chăn cấm đi khỏi nơi cư trú; tại ngoại. Có mặt.

2. Phạm Văn T, sinh năm 1989, tại huyện L, tỉnh Thanh Hoá.

Nơi cư trú: thôn H, xã K, huyện L, tỉnh Thanh Hoá; nghề nghiệp: thợ xây; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Mường; giới tính Nam; tôn giáo: không; quốc tịch Việt Nam; con ông Phạm Văn Đ và bà Bùi Thị T; có vợ Phạm Thị H, có 02 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2013; tiền án: không, tiền sự: Ngày 03/01/2018 Công an huyện L xử phạt hành chính 1.500.000đ về hành vi đánh bạc (chưa nộp tiền); bị tạm giữ từ ngày 11/9/2018 đến ngày 16/9/2018 được thay thế biện pháp ngăn chăn cấm đi khỏi nơi cư trú; tại ngoại. Có mặt.

3. Phạm Văn P (tức Phạm Văn P), sinh năm 1987, tại huyện L, tỉnh Thanh Hoá.

Nơi cư trú: thôn H, xã K, huyện L, tỉnh Thanh Hoá; nghề nghiệp: thợ xây; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Mường; giới tính Nam; tôn giáo: không; quốc tịch Việt Nam; con ông Phạm Văn Th và bà Phạm Thị P; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 19/12/2014 bị Tòa án nhân dân huyện L xử phạt 24 tháng cải tạo không giam giữ về tội đánh bạc, năm 2015 do chính sách hình sự thay đổi, bị cáo đương nhiên xóa án tích; bị tạm giữ từ ngày 11/9/2018 đến ngày 16/9/2018 được thay thế biện pháp ngăn chăn cấm đi khỏi nơi cư trú; tại ngoại. Có mặt.

4. Bùi Văn M, sinh năm 1977, tại huyện L, tỉnh Thanh Hoá.

Nơi cư trú: thôn H, xã K, huyện L, tỉnh Thanh Hoá; nghề nghiệp: thợ xây; trình độ văn hoá: 6/12; dân tộc: Mường; giới tính Nam; tôn giáo: không; quốc tịch Việt Nam; con ông Bùi Văn H và bà Lê Thị N; có vợ Bùi Thị T (đã ly hôn), có 02 con, lớn sinh năm 2001, nhỏ sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 20/12/2012 bị Tòa án nhân dân huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum xử phạt 12 tháng tù về tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục nguy cấp, quý hiếm (chấp hành xong hình phạt ngày 04/8/2013); bị tạm giữ từ ngày 11/9/2018 đến ngày 16/9/2018 được thay thế biện pháp ngăn chăn cấm đi khỏi nơi cư trú; tại ngoại. Có mặt.

Ngoài ra, còn có các bị cáo Lê Thanh T, Phạm M T, Lê Văn T không kháng cáo và không bị kháng nghị.

- Viện kiểm sát kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ ngày 10/9/2018, Phạm NV, Bùi Văn M, Phạm Văn T, Lê Thanh T đến nhà Phạm Thái M ở cùng thôn để hát karaoke, hát được một lúc thì rủ nhau đánh bài tú lơ khơ chơi. Thấy bộ bài tú lơ khơ đã cũ, Phạm NV nhờ anh Phạm Thái M đi mua bộ bài mới, anh Phạm Thái M sai con gái là Phạm Thị X đi mua bộ bài tú lơ khơ mới về cho Viện. Đến khoảng 23h cùng ngày, Phạm M Thảo, Phạm Văn P, Lê Văn Thế ở cùng thôn đến thì tất cả rủ nhau đánh bài ăn tiền bằng hình thức đánh liêng. Mỗi ván, người chia bài chia cho mỗi người đánh bạc 03 cây bài để tính điểm, ai cao hơn thì thắng, số tiền đánh bạc trong mỗi ván bài thấp nhất là 10.000đ, cao nhất là 100.000đ. Các bị cáo đánh bạc đến khoảng 0h30 ngày 11/9/2018 thì bị Công an huyện L bắt quả tang, thu trên chiếu bạc số tiền 6.082.000đ, 01 bộ bài tú lơ khơ 52 cây.

Đối với anh Phạm Thái M, do nể nang đã cho các bị cáo sử dụng nhà thuộc quyền sở hữu của mình để đánh bạc, nhưng không nhằm mục đích lợi nhuận, không tham gia đánh bạc nên Công an huyện L đã xử phạt hành chính 3.500.000đ.

Tại bản án số: 01/2019/HS-ST ngày 17/01/2019 của Toà án nhân dân huyện L, tỉnh Thanh Hóa:

Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Phạm NV 06 tháng; Phạm Văn T 07 tháng tù, Phạm Văn P 06 tháng tù, Bùi Văn M 06 tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án (được trừ thời gian tạm giữ 06 ngày). Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn xử phạt các bị cáo Lê Thanh T, Phạm M Thảo, Lê Văn Thế mỗi bị cáo 06 tháng tù cho hưởng án treo, quyết định xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

- Ngày 28/01/2019, Phạm NV, Phạm Văn P, Phạm Văn T, Bùi Văn M kháng cáo, đều với nội dung: Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm cho các bị cáo hưởng án treo.

- Ngày 01/02/2019, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa ban hành kháng nghị số 04/QĐ-VKS, với nội dung: Phạm Thái M đã đồng ý cho các đối tượng dùng nhà ở của mình để đánh bạc, vì vậy Phạm Thái M có dấu hiệu phạm tội đánh bạc với vai trò đồng phạm giúp sức, quá trình điều tra không khởi tố Phạm Thái M xử lý về tội đánh bạc mà xử phạt hành chính là không đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Các bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa rút quyết định kháng nghị số 04/QĐ-VKS ngày 01/02/2019. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện L,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được công bố tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Khoảng 0hh30’ ngày 11/9/2018, tại nhà anh Phạm Thái M, tại thôn H, xã K, huyện L các bị cáo Phạm NV; Phạm Văn T; Phạm Văn P; Bùi Văn M; Lê Thanh T; Phạm M Thảo, Lê Văn L đang đánh bạc dưới hình thức đánh liêng thì bị Công an huyện L bắt quả tang, số tiền đánh bạc thu trên chiếu bạc là 6.082.000đ

Do có hành vi trên, Toà án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo tội “Đánh bạc” là đúng người, đúng tội có căn cứ pháp luật.

Khi quyết định hình phạt Toà án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết: thành khẩn khai báo-là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Phạm NV, Bùi Văn M, Phạm Văn P có bố đẻ tham gia kháng chiến được tặng thưởng huân chương-là tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra bị cáo cho rằng hoàn cảnh gia đình các bị cáo khó khăn, bố mẹ già yếu thường xuyên ốm đau, và là lao động chính, bị cáo Phạm NV và Phạm Văn T cho rằng có giúp Công an xã bắt giữ các đối tượng trộm cắp chó trên địa bàn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét. Phạm NV, Phạm Văn T ngày 03/01/2018 bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc, Phạm Văn P và Bùi Văn M đã từng bị kết án, tuy đã được xóa án tích, các bị cáo có nhân thân xấu, nên Tòa án cấp sơ thẩm buộc các bị cáo phải cách ly khỏi xã hội một thời gian là có căn cứ. Tại phiên tòa phúc thẩm không có tỉnh tiết mới để Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo hưởng án treo theo nội dung đơn kháng cáo. Vì vậy không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm, như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tại phiên tòa là có căn cứ.

Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 01/2019/HS-ST ngày 17/01/2019 của Toà án nhân dân huyện L, tỉnh Thanh Hóa.

* Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 (đối với Phạm NV, Bùi Văn M, Phạm Văn P) Điều 51 Điều 38 Bộ luật Hình sự.

* Xử phạt:

- Phạm NV 06 tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án (được trừ 06 ngày tạm giữ).

- Phạm Văn T 07 tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án (được trừ 06 ngày tạm giữ).

- Phạm Văn P 06 tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án (được trừ 06 ngày tạm giữ).

- Bùi Văn M 06 tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án (được trừ 06 ngày tạm giữ).

* Án phí: Phạm NV, Phạm Văn T, Phạm Văn P, Bùi Văn M mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ