- Tranh chấp gì? án hình sự — "Sộng A M - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Sộng A M (Sộng A M2) phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH SƠN LA Bản án số: 129/2018/HSST Ngày 11 - 9 - 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tòng Thị Hồng.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Quàng Văn Tiện; Ông Vì Văn Đôi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên toà: Ông Hoàng Văn Viên - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 132/2018/TLHS - ST ngày 13/8/2018 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 133/2018/QĐXXST - HS, ngày 27 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo sau đây:
Họ và tên: Sộng A M (Sộng A M2), sinh năm 1983; Nơi cư trú: Bản CH, xã CK, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Mông; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Chức vụ Đảng phái, Đoàn thể: Không; Con ông Sộng Gạ D (đã chết) và bà Giàng Thị Nh; Vợ: Vàng Thị L, có 03 con lớn nhất (Lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất 2012). Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/5/2018 cho đến nay. Có mặt.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Vàng Thị L. Trú quán: Bản CH, xã CK, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Cầm Trọng Thủy - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 21 giờ 00 phút, ngày 14/5/2018 tại khu vực bản Nà Ngặp, xã CK, huyện Sông Mã, Sộng A M (Sộng A M2) bị Tổ công tác Công an huyện Sông Mã phối hợp với Ban công an xã CK, huyện Sông Mã phát hiện bắt quả tang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ gồm: 02 gói nilon màu hồng bên trong chứa bột trắng ngà, M khai là heroine, ngoài ra tạm giữ 01 xe mô tô có biển kiểm soát 26C1 - 000.82 và 01 điện thoại di động hiệu Mobistar.
Ngày 16/5/2018 tại Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, tiến hành cân tịnh, xác định khối lượng vật chứng, trích mẫu giám định. Kết quả: số bột màu trắng trong gói thứ nhất có khối lượng là 3,47 gam, trích 0,18 gam làm mẫu giám định, ký hiệu T1, số còn lại 3,29 gam ký hiệu T2; gói thứ hai có có khối lượng 0,69 gam, trích 0,09 gam làm mẫu giám định ký hiệu T3, còn lại 0,6 gam ký hiệu T4.
Kết luận giám định số: 613/KLMT ngày 23/5/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu T1,T3 là chất ma túy; loại Heroine: khối lượng của mẫu giám định là T1 = 0,18 gam, T3 = 0,09 gam. Tổng khối lượng chất ma túy thu là 4,16 gam; Loại chất Heroine”.
Quá trình điều tra bị cáo khai nhận: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 14/5/2018 bị cáo gọi điện cho một người phụ nữ dân tộc Mông tên là Tr trú ở bản Bướm Ỏ, xã CK, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La hỏi mua ma túy, người tên Tr đồng ý, sau đó M cầm 1.800.000 đồng điều khiển xe đến điểm hẹn gặp người phụ nữ, được người phụ nữ đưa cho M 02 gói nilon màu hồng, M đưa trả người phụ nữ 1.800.000 đồng, sau khi giao nhận xong M đi về đến khu vực bản Nà Ngặp, xã CK thì bị tổ công tác Công huyện và Ban Công an xã CK phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng.
Cáo trạng số: 95/KSĐT – MT, ngày 13/8/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã truy tố bị cáo về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Sộng A M (Sộng A M2) phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm s khoản 1 điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Sộng A M (Sộng A M2) từ 40 đến 45 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1, khoản 2 điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: Trả lại cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan 01 chiếc xe mô tô; Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động; Tịch thu tiêu hủy một phong bì thư niêm phong vật chứng của vụ án.
Về nguồn gốc chất ma túy: bị cáo khai mua với một người phụ nữ dân tộc Mông tên Tr trú tại bản Bướm Ỏ, xã CK, Sông Mã quá trình điều tra không xác định được nên cơ quan điều tra không có căn điều tra mở rộng vụ án.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
* Quan điểm bào chữa cho bị cáo của Trợ giúp viên pháp lý: xác định thủ tục điều tra, truy tố, xét xử đối với bị cáo là đảm bảo các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; bị cáo bị truy tố, xét xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, không oan. Đề nghị HĐXX căn cứ vào nhân thân và điều kiện hoàn cảnh của bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn nên nhận thức pháp luật hạn chế, bị cáo thật sự ăn năn hối cải, áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 36 đến 40 tháng tù.
Bị cáo nhất trí với nội dung cáo trạng đã truy tố và quan điểm luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tại phiên tòa, không có tranh luận gì, nhất trí với quan điểm của người bào chữa, không có bổ sung gì, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt phần nào cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố của cơ quan điều tra Công an huyện Sông Mã, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo được thể hiện: Ngày 14/5/2018 bị cáo Sộng A M (Sộng A M2) đã có hành vi mua 4,16 gam Heroine với giá 1.800.000 đồng mục đích để sử dụng, mua bán xong trên đường vận chuyển về cất giấu thì bị phát hiện bắt quả tang.
Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ như sau: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 21 giờ 15 phút ngày 14/5/2018 đối với bị cáo, phù hợp với kết luận giám định số 613/KLMT ngày 23/5/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận các mẫu gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, tổng khối lượng chất ma túy thu giữ là 4,16 gam và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ kết luận: Bị cáo Sộng A M (Sộng A M2) đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật Hình sự, có mức hình phạt tù từ 01 đến 05 năm. Như vậy, nội dung cáo trạng truy tố bị cáo và quan điểm luận tội, điều luật viện dẫn áp dụng, mức án của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã đề nghị áp dụng đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật cũng phù hợp với quan điểm của người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa.
Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng nguy hiểm cho xã hội, cố ý xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó việc đưa bị cáo ra xét xử là đúng người đúng pháp luật, đảm bảo biện pháp giáo dục phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, nhận tội là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có khả năng thi hành, không áp dụng với bị cáo là phù hợp.
Về nguồn gốc chất ma túy bị cáo khai mua với người phụ nữ dân tộc Mông tên Tr ở bản Bướm Ỏ, xã CK, huyện Sông Mã, quá trình điều tra xác minh tại bản Bướm Ỏ, xã CK không có người phụ nữ nào tên Tr, cơ quan điều tra không có căn cứ điều tra mở rộng vụ án là đúng quy định của pháp luật.
Về vật chứng của vụ án: Sau khi lấy mẫu giám định số ma túy còn lại có các ký hiệu: T2 = 3,29 gam, T4 = 0,6 gam và 02 mảnh NiLon màu hồng, 01 vỏ niên phong vật chứng ban đầu là vật cấm lưu hành không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy; 01 chiếc xe mô tô Wave RSX BKS 26C - 000.82 là tài sản chung hợp pháp của gia đình bị cáo, khi bị cáo sử dụng vào việc phạm tội không ai biết cần trả lại; 01 chiếc điện thoại di động là vật bị cáo sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước;
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Sộng A M (Sộng A M2) phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
[1] Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Sộng A M (Sộng A M2) 40 (bốn mươi) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 14/5/2018.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[2] Vật chứng: Áp dụng khoản 1, khoản 2 điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
- Trả lại cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Vàng Thị L: 01 chiếc xe mô tô Wave RSX hiệu HONDA màu trắng, đen BKS 26C - 000.82; số khung: 011340, số máy: 5913480 xe đã qua sử dụng + 01 chìa khóa xe máy.
- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động hiệu mobistar loại B242i màu vàng đã qua sử dụng có số imei: 352242120290913, điện thoại gắn 02 sim và 01 thẻ nhớ.
- Tịch thu tiêu hủy một phong bì thư niêm phong, mặt trước ghi: Vật chứng vụ: Sộng A M; SN: 1983 ở bản CH, xã CK, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La, hành vi cất dấu trái phép chất ma túy gồm: T2 = 3,29 gam; T4 = 0,6 gam nghi Heroine, 02 mảnh nilon màu hồng, 01 vỏ niêm phong vật chứng ban đầu.
Theo biên bản giao nhận vật chứng tài sản, ngày 27/7/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.
[3] Về án phí: Áp dụng Điều 135,136 Bộ luật tố tụng hình sự; các điều 21, 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.
[4] Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (11/9/2018).
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh Sơn La ; - VKSND huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La; - Công an huyện Sông Mã; - Bị cáo; - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; - Lưu HS- AV. | T. M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Tòng Thị Hồng |