vanban.org

Bản án 129/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Củ Chi, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 13/08/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt bị cáo Lê Văn M 02 (Hai) năm tù Thời hạn tù t nh từ ngày 27/4/2018. Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) gói niêm phong mang số vụ 803/2018 có chữ ký niêm phong của cán bộ điều tra và giám định viên. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CỦ CHI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TH NH H H CH M NH
Bản án số: 129/2018/HS-ST
Ngày: 13 – 8 – 2018.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI TH NH H H CH MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông han Trịnh Minh Đức.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Văn Bé.

2. Bà hạm Thị Ngọc.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Thành – Th ký Tòa án nhân dân huy n Củ Chi Thành phố H Ch Minh

- i di n i n ki m s t nh n d n hu n

hi Thành ph Hồ h Minh: Ông Trần Đức Sơn – Kiểm sát viên

Ngày 13 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huy n Củ Chi, Thành phố H Ch Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 122/2018/HSST ngày 20 tháng 7 năm 2018 đối với bị cáo:

Lê Văn M, sinh năm: 1995; tại Tỉnh ST; giới t nh: Nam; nơi đăng ký hộ khẩu th ờng trú: Ấp Th A 1, xã TTT huy n Tr. Đ Tỉnh ST; nơi c trú: Ấp BĐ 2, xã TPT, huy n C Thành phố H; nghề nghi p: Không; trình độ văn hoá: 7/12; quốc tịch: Vi t Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Lê Văn H, sinh năm 1970 và bà Lê Thị T, sinh năm 1972; anh chị em ruột: 02 ng ời kể cả bị cáo; vợ: Huỳnh Ngọc H ng Đ; con: 01 con sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ tạm giam ngày 27/4/2018 đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa

Ng ời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Huỳnh Ngọc H ng Đ (Có mặt)

Địa chỉ: Ấp Th A 3, xã TTT huy n Tr Đ Tỉnh ST.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài li u có trong h sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án đ ợc tóm tắt nh sau:

Khoảng 16 giờ 30 ngày 27/4/2018 tr ớc nhà nghỉ ĐH tại đ ờng số 25 ấp Tân Lập xã Tân Thông Hội huy n Củ Chi Thành phố H Ch Minh Đội Cảnh sát điều tra Công an huy n Củ Chi kết hợp cùng Công an xã Tân Thông Hội huy n Củ Chi Thành phố H Ch Minh tuần tra dừng xe mô tô gắn máy biển số 83 2 – 874.xx do bị cáo Lê Văn M (Sau đây gọi tắt là bị cáo) đang điều khiển để kiểm tra và phát hi n bắt quả tang trong túi áo khoác của bị cáo đang mặc có 01 (Một) gói nylon bên trong có chứa tinh thể không màu.

Tại Cơ quan điều tra bị cáo khai nhận: Do bị nghi n chất ma túy nên bị cáo th ờng đ ợc một ng ời thanh niên tên T (Ch a rỏ lai lịch) cho sử dụng chung ma túy Lúc 15 giờ 30 phút ngày 27/4/2018 T đi n thoại cho bị cáo nhờ bị cáo đến khu vực Cầu An Hạ huy n Hóc Môn Thành phố H Ch Minh gặp một ng ời thanh niên tên B (Ch a rỏ lai lịch) lấy ma túy về nhà nghỉ ĐH huy n Củ Chi Thành phố H Ch Minh để sử dụng chung bị cáo đ ng ý Bị cáo điều khiển xe mô tô gắn máy biển số 83 2 – 874.xx đến điểm hẹn và đi n thoại cho tên B (Do bị cáo đã từng mua ma túy của tên B nên biết số đi n thoại) tên B chỉ đ ờng cho bị cáo chạy xuống chân Cầu An Hạ gặp một ng ời thanh niên (Ch a rỏ lai lịch) điều khiển xe mô tô gắn máy hi u Dream (Không rỏ biển số) đứng chờ và giao cho bị cáo 01 (Một) gói thuốc lá hi u Jet bên trong có 01 (Một) gói nylon chứa chất ma túy đá bị cáo cất ma túy vào túi áo khoác đang mặc điều khiển xe chạy về nhà nghỉ ĐH và bị bắt quả tang cùng tang vật nh đã nêu trên

Khám xét khẩn cấp nơi ở của bị cáo Cơ quan điều tra thu giữ 02 (Hai) bộ dụng cụ dùng sử dụng chất ma túy đá

Vật chứng thu giữ:

- Vật chứng thu giữ của bị cáo tại hi n tr ờng g m: Tiền Ngân hàng Nhà n ớc Vi t Nam: 700.000đ (Bảy trăm ngàn đ ng) 01 (Một) chiếc xe gắn máy hi u Honda loại Winner, màu vàng đen; biển kiểm soát số: 83 2 – 874.xx; số máy: KC26E1051588; số khung: 2600GY030839, 01 (Một) chiếc đi n thoại di động hi u Itel màu đỏ có số mei: 354569084833629, 01 (Một) gói niêm phong mang số vụ 803/2018 có chữ ký niêm phong của cán bộ điều tra và giám định viên

- Vật chứng thu giữ tại nơi ở của bị cáo: 02 (Hai) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá

Quá trình điều tra bị cáo khai nhận thực hi n hành vi đã nêu trên

Tại bản kết luận giám định số 803/KLGĐ-H ngày 04/5/2018 của hòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố H Ch Minh kết luận: Tinh thể không màu trong 01 (Một) gói nylon đ ợc niêm phong bên ngoài có dấu vân tay chữ ký ghi tên Lê Văn M và hình dấu Công an xã Tân Thông Hội huy n Củ Chi Thành phố H Ch Minh gửi đến giám định là ma túy ở thể rắn có trọng l ợng 0,4477gam, loại Methamphetamine.

Đối với ng ời nam thanh niên tên T, tên B và ng ời thanh niên giao chất ma túy cho bị cáo tại Cầu An Hạ, huy n Hóc Môn Thành phố H Ch Minh do ch a xác định đ ợc nhân thân, lai lịch nên ch a làm vi c đ ợc Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh điều tra làm rõ xử lý sau

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội nh trên.

Tại phiên tòa ng ời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Ngọc H ng Đ xin Hội đ ng xét xử xem xét trả lại 01 (Một) chiếc xe gắn máy hi u Honda loại Winner màu vàng đen; biển kiểm soát số: 83 2 – 874.xx; số máy: KC26E1051588; số khung: 2600GY030839 vì đây là tài sản chung của bà Đ và bị cáo là ph ơng ti n duy nhất của gia đình khi bị cáo sử dụng xe dùng vào vi c phạm tội bà Đ không biết

Bản cáo trạng số 98/CT – VKS.CC ngày 17/7/2018 của Vi n kiểm sát nhân dân huy n Củ Chi Thành phố H Ch Minh truy tố bị cáo Lê Văn M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà đại di n Vi n kiểm sát nhân dân huy n Củ Chi Thành phố H Ch Minh giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng phù hợp biên bản bắt ng ời phạm tội quả tang và các chứng cứ khác có tại h sơ Do đó đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đề nghị Hội đ ng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đề nghị Hội đ ng xét xử:

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Lê Văn M từ 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

+ Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) gói niêm phong mang số vụ 803/2018 có chữ ký niêm phong của cán bộ điều tra và giám định viên.

+ Tịch thu tiêu hủy 02 (Hai) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá.

+ Tịch thu sung vào ngân sách Nhà n ớc 01 (Một) chiếc đi n thoại di động hi u tel màu đỏ có số mei: 354569084833629.

+ Trả lại cho bị cáo số tiền Ngân hàng Nhà n ớc Vi t Nam: 700 000đ (Bảy trăm ngàn đ ng).

+ Trả lại cho bị cáo và bà Huỳnh Ngọc H ng Đ 01 (Một) chiếc xe gắn máy hi u Honda loại Winner màu vàng đen; biển kiểm soát số: 83 2 – 874.xx; số máy: KC26E1051588; số khung: 2600GY030839

Bị cáo Lê Văn M không tranh luận không tự bào chữa

Lời nói sau cùng, bị cáo ăn năn hối cải xin Hội đ ng xét xử khoan h ng xét xử mức án nhẹ để bị cáo sớm về đoàn tụ gia đình và kiếm vi c làm ổn định cuộc sống.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI Đ NG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án căn cứ vào các tài li u trong h sơ vụ án đã đ ợc thẩm tra xét hỏi tranh luận tại phiên tòa Hội đ ng xét xử nhận thấy:

Về hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huy n Củ Chi Thành phố H Ch Minh Điều tra viên Vi n kiểm sát nhân dân huy n Củ Chi Thành phố H Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hi n đúng về thẩm quyền trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn M không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng ng ời tiến hành tố tụng Do đó các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng ng ời tiến hành tố tụng đã thực hi n đều hợp pháp

Bị cáo khai nhận khoảng 16 giờ 30 ngày 27/4/2018 tr ớc nhà nghỉ ĐH tại đ ờng số 25 ấp Tân Lập xã Tân Thông Hội huy n Củ Chi Thành phố H Ch Minh bị cáo đang tàng trữ trong túi áo khoác của bị cáo đang mặc 01 (Một) gói nylon bên trong có chứa tinh thể không màu là chất ma túy đã bị Đội Cảnh sát điều tra Công an huy n Củ Chi kết hợp cùng Công an xã Tân Thông Hội huy n Củ Chi Thành phố H Ch Minh tuần tra kiểm tra và phát hi n bắt quả tang Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt ng ời phạm tội quả tang lời khai của ng ời làm chứng phù hợp bản kết luận giám định số 803/KLGĐ-H ngày 04/5/2018 của hòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố H Ch Minh kết luận: Tinh thể không màu trong 01 (Một) gói nylon đ ợc niêm phong bên ngoài có dấu vân tay chữ ký ghi tên Lê Văn M và hình dấu Công an xã Tân Thông Hội huy n Củ Chi Thành phố H Ch Minh gửi đến giám định là ma túy ở thể rắn có trọng l ợng 0 4477gam loại Methamphetamine Nh vậy có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Lê Văn M đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt đ ợc quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 Do đó Vi n kiểm sát nhân dân huy n Củ Chi Thành phố H Ch Minh truy tố bị cáo Lê Văn M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có căn cứ đúng ng ời đúng tội đúng pháp luật

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm sự độc quyền quản lý của Nhà n ớc về chất ma túy, chất gây nghi n d ợc li u, d ợc phẩm độc hại; đã tiếp tay cho các đối t ợng nghi n ma túy ngày càng lún sâu vào con đ ờng nghi n ngập gây nguy hại rất lớn cho xã hội đây cũng là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác gây mất an ninh trật tự tại địa ph ơng và tạo ra một d luận xấu trong nhân dân

Bị cáo là ng ời có đủ năng lực chịu trách nhi m hình sự nhận thức rỏ ràng vi c tàng trữ trái phép chất ma túy là bị pháp luật nghiêm cấm nh ng bị cáo đã bất chấp pháp luật Do đó Hội đ ng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo và giáo dục bị cáo trở thành ng ời tốt, đ ng thời phòng ngừa chung cho xã hội

Tuy nhiên, Hội đ ng xét xử xem xét mức độ hành vi phạm tội các tình tiết tăng nặng trách nhi m hình sự tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự của bị cáo để có một hình phạt t ơng xứng

Về tình tiết tăng nặng trách nhi m hình sự: Bị cáo ch a có tiền án tiền sự

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải. Do đó Hội đ ng xét xử căn cứ điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội lần đầu có con còn nhỏ và không có nghề nghi p nên quyết định miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về xử lý vật chứng:

- 01 (Một) gói niêm phong mang số vụ 803/2018 có chữ ký niêm phong của cán bộ điều tra và giám định viên Xét đây là chất ma túy là vật cấm mua bán, tàng trữ vận chuyển nên căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu tiêu hủy

- 02 (Hai) bộ dụng cụ sử dụng ma túy là vật cấm sử dụng nên căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu tiêu hủy

- 01 (Một) chiếc đi n thoại di động hi u tel màu đỏ có số mei: 354569084833629 của bị cáo dùng làm ph ơng ti n liên lạc nhằm mục đ ch tàng trữ trái phép chất ma túy nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu sung vào ngân sách Nhà n ớc.

- Số tiền Ngân hàng Nhà n ớc Vi t Nam 700.000đ (Bảy trăm ngàn đ ng) là tiền của bị cáo không liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 trả lại cho bị cáo.

- 01 (Một) chiếc xe gắn máy hi u Honda loại Winner màu vàng đen; biển kiểm soát số: 83 2 – 874.xx; số máy: KC26E1051588; số khung: 2600GY030839 do bị cáo đứng tên giấy đăng ký Tuy nhiên chiếc xe này là tài sản chung của bị cáo và vợ là bà Huỳnh Ngọc H ng Đ mua trả góp là ph ơng ti n sinh hoạt trong gia đình bị cáo sử dụng khi thực hi n hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bà Đ không biết nên căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 trả lại cho bị cáo và bà Huỳnh Ngọc H ng Đ.

Tại phiên tòa đại di n Vi n kiểm sát nhân dân huy n Củ Chi, Thành phố H Ch Minh giữ nguyên bản cáo trạng số 98/CT – VKS.CC ngày 17/7/2018 truy tố bị cáo Lê Văn M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; đề nghị Hội đ ng xét xử xem xét tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo Lê Văn M theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử lý vật chứng theo qui định Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 Nh nhận định nêu trên xét thấy có cơ sở nên chấp nhận

Về án ph : Bị cáo Lê Văn M phải chịu án ph hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Th ợng vụ Quốc hội.

Đối với ng ời nam thanh niên tên T, tên B và ng ời nam thanh niên giao chất ma túy cho bị cáo tại Cầu An Hạ huy n Hóc Môn Thành phố H Ch Minh do ch a xác định đ ợc nhân thân lai lịch nên ch a làm vi c đ ợc Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh điều tra làm rõ xử lý sau. Xét thấy có cơ sở nên chấp nhận

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Lê Văn M 02 (Hai) năm tù Thời hạn tù t nh từ ngày 27/4/2018.

- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

+ Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) gói niêm phong mang số vụ 803/2018 có chữ ký niêm phong của cán bộ điều tra và giám định viên.

+ Tịch thu tiêu hủy 02 (Hai) bộ dụng cụ sử dụng ma túy.

+ Tịch thu sung vào ngân sách Nhà n ớc 01 (Một) chiếc đi n thoại di động hi u Itel màu đỏ có số mei: 354569084833629.

+ Trả lại cho bị cáo số tiền Ngân hàng Nhà n ớc Vi t Nam 700.000đ (Bảy trăm ngàn đ ng).

+ Trả lại cho bị cáo và bà Huỳnh Ngọc H ng Đ 01 (Một) chiếc xe gắn máy hi u Honda loại Winner màu vàng đen; biển kiểm soát số: 83 2 – 874.xx; số máy: KC26E1051588; số khung: 2600GY030839

Các vật chứng nêu trên đ ợc li t kê tại phiếu nhập kho vật chứng số: 133/PNK ngày 15/5/2018 và số: 162/ NK ngày 05/7/2018 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huy n Củ Chi Thành phố H Ch Minh.

- Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016:

Án phí HS-ST: Bị cáo Lê Văn M phải chịu 200 000đ (Hai trăm ngàn đ ng).

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ng ời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Ngọc H ng Đ có quyền kháng cáo phần có liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ