- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Mỹ H - Nguyễn Hoàng S"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 129/2018/HNGĐ-ST Ngày: 28/8/2018 V/v tranh chấp: "Ly hôn" |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG,
TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà LƢƠNG NGỌC YẾN ANH
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông NGÔ TIẾN THÀNH
2. Bà NGUYỄN THỊ TỈNH
- Thư ký phiên tòa: Bà NGUYỄN THỊ THỦY
– Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Nha Trang tham gia phiên tòa: Bà LÊ ÁNH DƢƠNG – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 485/2018/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2018 về tranh chấp "Ly hôn"; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 137/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 8 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 96/2018/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 8 năm 2018, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Mỹ H - Sinh năm: 1987
ĐKHKTT: Tổ 14 Tây N, phường Vĩnh H, thành phố T, tỉnh K.
Chỗ ở hiện nay: 6/3 Nguyễn C, phường Vĩnh H, thành phố T, tỉnh K.
Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
* Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng S - Sinh năm: 1986
ĐKHKTT: Tổ 14 Tây N, phường Vĩnh H, thành phố T, tỉnh K. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và các bản tự khai, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ H trình bày:
Tôi và anh Nguyễn Hoàng S tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Vĩnh H, thành phố T vào năm 2016. Quá trình chung sống đã có nhiều mâu thuẫn do anh S có người phụ nữ khác và đã có con riêng. Tôi đã cố gắng chịu đựng, bỏ qua và khuyên can anh Sang rất nhiều nhưng vẫn không hề thay đổi. Tôi và anh S đã ly thân từ năm 2017 đến nay. Nay, tôi thấy cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, hoàn toàn bế tắc nên làm đơn xin Tòa án cho tôi được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng S, để tôi an tâm ổn định cuộc sống của mình và nuôi dạy con cho tốt.
Chúng tôi có 01 con chung là cháu Nguyễn Hoàng A, sinh ngày: 09/5/2016. Tôi xin được nuôi con chung và không yêu cầu anh S cấp dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa giải quyết.
Bị đơn ông Nguyễn Hoàng S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa án để làm việc nên không có lời khai.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ H vắng mặt và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; bị đơn ông Nguyễn Hoàng S được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt lần thứ hai không có lý do chính đáng. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Mỹ H và ông Nguyễn Hoàng S kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại tại Ủy ban nhân dân phường Vĩnh H, thành phố T; theo Giấy chứng nhận kết hôn số 137/2016, cấp ngày 06/9/2016. Đây là hôn nhân hợp pháp.
Qua lời khai của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng: Quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông S không hạnh phúc do ông S có người phụ nữ khác và đã có con riêng. Hai người đã tự sống ly thân được 01 năm, bỏ mặc và không quan tâm đến nhau nữa. Hiện nay, bà H khẳng định không còn tình cảm với ông S nên xin ly hôn. Mặt khác, Tòa án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Nguyễn Hoàng S nhưng tại các buổi hòa giải cũng như tại các phiên tòa, ông S không có mặt để tham gia tố tụng, cho thấy ông S không có thiện chí trong việc mong muốn hàn gắn, đoàn tụ gia đình. Như vậy, mục đích hôn nhân của bà H và ông S không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài, yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Bà Nguyễn Thị Mỹ H khai có 01 con chung là cháu Nguyễn Hoàng A, sinh ngày: 09/5/2016. Bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung.
Xét cháu Hoàng A còn nhỏ, rất cần sự quan tâm, chăm sóc của người mẹ và hiện đang sống với mẹ ổn định nên quyết định giao cháu Hoàng A cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục sau khi ly hôn, là hợp lý.
Về yêu cầu cấp dƣỡng nuôi con chung: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ H không yêu cầu ông Nguyễn Hoàng S cấp dưỡng nuôi con nên không xét. Nếu sau này có yêu cầu sẽ được xem xét, giải quyết bằng vụ án khác khi có đơn khởi kiện.
Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ H không có yêu cầu nên không xem xét, giải quyết. Nếu sau này các bên có yêu cầu sẽ được xem xét, giải quyết bằng vụ án khác khi có đơn khởi kiện.
Án phí: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014;
- Khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ H.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hvà ông Nguyễn Hoàng Sđược ly hôn.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hoàng A, sinh ngày: 09/5/2016 cho bà Nguyễn Thị Mỹ H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục sau khi ly hôn.
Bà Nguyễn Thị Mỹ H không yêu cầu cấp dưỡng nên không xét. Nếu sau này có yêu cầu sẽ được xem xét giải quyết bằng vụ án khác khi có đơn khởi kiện.
Ông Nguyễn Hoàng S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không có yêu cầu nên không xem xét. Nếu sau này các đương sự có yêu cầu sẽ được giải quyết bằng vụ án khác khi có đơn khởi kiện.
4. Án phí: Bà Nguyễn Thị Mỹ H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) mà bà H đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2016/0008783 ngày 03/4/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang. Bà Nguyễn Thị Mỹ H đã nộp đủ án phí.
5. Quy định:
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
6. Quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hương và ông Nguyễn Hoàng Sang có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND Tp. Nha Trang - Đương sự - THADS Tp. Nha Trang - TAND tỉnh Khánh Hòa - UBND phường Xương Huân, Tp. Nha Trang. - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã kí) Lƣơng Ngọc Yến Anh |