vanban.org

Bản án 1280/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Hà Thị Kim N được ly hôn với ông Nguyễn Công T. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, Giấy chứng nhận kết hôn Số 31, quyển số 01/2013 do UBND phường A, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 12/3/2013 không còn giá trị pháp lý. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1280/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 25/12/2020
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, TP. HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Mai

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nịnh Thị Tuyết Mai

Ông Nguyễn Văn Tiên

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Kim Thu – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 12 năm 2020 tại phòng xử án - Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1588/2019/TLST- HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2019 về việc Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 940/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2020 và quyết định hoãn phiên tòa số 196/2018/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 8 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Hà Thị Kim N - Sinh năm: 1992

Địa chỉ: 431/1A, Tổ 17, Khu phố 4, phường A, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Có đơn xin vắng mặt)

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Công T - Sinh năm: 1988

Địa chỉ: 431/1A, Tổ 17, Khu phố 4, phường A, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, tại bản tự khai, biên bản ghi nhận không tiến hành hoà giải được, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đơn xin vắng mặt nguyên đơn bà Hà Thị Kim N trình bày:

Bà Hà Thị Kim N và ông Nguyễn Công T tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn Số 31, quyển số 01/2013 do UBND phường A, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 12/3/2013. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng sau đó vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống và ông Nguyễn Công T có người phụ nữ khác. Hai vợ chồng đã nhiều lần nói chuyện với nhau để giải quyết mâu thuẫn nhưng chỉ được thời gian ngắn sau đó mâu thuẫn lại càng trầm trọng hơn. Vợ chồng ông bà đã ly thân nhau khoảng một năm nay. Hiện không ai quan tâm, chăm sóc cho ai. Từ khi 02 vợ chồng ông bà sống ly thân đến nay con chung do bà Hà Thị Kim N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Bà Hà Thị Kim N kinh doanh mỹ phẩm, thu nhập trung bình khoảng 20.000.000đ/tháng. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn khả năng hàn gắn đoàn tụ và bà Hà Thị Kim N không còn tình cảm gì với ông Nguyễn Công T nữa nên bà Hà Thị Kim N yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Công T.

Về con chung: không có.

- Tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: không yêu cầu Toà án giải quyết.

Bị đơn ông Nguyễn Công T vắng mặt tại phiên toà.

Tại phiên toà, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 12 tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà đã tuân thủ đúng pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Nguyên đơn yêu cầu được ly hôn với bị đơn. Đây là tranh chấp về ly hôn. Bị đơn đang cư trú tại Quận 12 nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

. Về thủ tục tố tụng: Toà án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên hoà giải, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải và triệu tập nguyên đơn, bị đơn đến tham gia phiên tòa nhưng nguyên đơn và bị đơn đều vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

. Về các yêu cầu của đương sự:

Căn cứ vào lời khai của đương sự, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:

Bà Hà Thị Kim N và ông Nguyễn Công T tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn. Như vậy, hôn nhân của Bà Hà Thị Kim N và ông Nguyễn Công T được thực hiện theo đúng các điều kiện và thủ tục kết hôn nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Theo lời trình bày của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: quan hệ tình cảm vợ chồng giữa bà Hà Thị Kim N và ông Nguyễn Công T thực sự mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, không cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc, cùng nhau nuôi dạy con cái. Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông Nguyễn Công T đến Tòa để giải quyết vụ kiện nhưng ông Nguyễn Công T không đến thể hiện ông Nguyễn Công T không còn quan tâm đến quan hệ hôn nhân giữa 02 vợ chồng. Xét thấy, đời sống chung giữa vợ chồng bà Hà Thị Kim N và ông Nguyễn Công T không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của bà Hà Thị Kim N là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại các Điều 19, 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: không có.

Nguyên đơn và bị đơn không yêu cầu giải quyết về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) bà Hà Thị Kim N phải nộp, được cấn trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) bà Hà Thị Kim N đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0024511 ngày 06/6/2017 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 12. Bà Hà Thị Kim N đã nộp đủ án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ các Điều 8, 9, 19, 51, 56, 58, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Hà Thị Kim N được ly hôn với ông Nguyễn Công T.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, Giấy chứng nhận kết hôn Số 31, quyển số 01/2013 do UBND phường A, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 12/3/2013 không còn giá trị pháp lý.

- Về con chung: không có..

- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: không yêu cầu Toà án giải quyết.

2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) bà Hà Thị Kim N phải nộp, được cấn trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) bà Hà Thị Kim N đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0024511 ngày 06/6/2017 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 12. Bà Hà Thị Kim N đã nộp đủ án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ