- Tranh chấp gì? "Nguyễn Tuấn N - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? [1] Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tuấn N; Sửa bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 202 Bộ luật Hình sự; Điều 24 Luật giao thông đường bộ
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án: 128/2017/HSPT Ngày: 15/9/ 2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thúy Phượng
Các Thẩm phán:
Ông Lê Thành Trung
Ông Tr n V n Đ ng
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa:
Bà Phạm Lê Trúc u nh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa:
Ông Phạm ai - Kiểm sát viên.
Ngày 14 và 15 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 138/2017/HSPT ngày 28/7/2017 đối với bị cáo Nguyễn Tuấn N do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 33/2017/HSST ngày 26/6/2017 của Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa.
Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Tuấn N, sinh năm 1972; nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn S, xã N, thị xã H, tỉnh K; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 09/12; con ông Nguyễn V, sinh năm 1952 và bà Trương T, sinh năm 1952; vợ: Nguyễn Lê B, sinh năm 1977; có 02 con lớn nhất sinh năm 1996, nhỏ nhất sinh năm 2005; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
NỘI NG V N:
Theo bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân th xã Ninh Hòa và bản án s thẩm của Toà án nhân dân th xã Ninh Hòa, thì n i dung v án đư c tóm t t như sau:
Khoảng 13 giờ 15 phút ngày 26/11/2016, Nguyễn Tuấn N điều khiển xe ô tô tải biển số 79C – 060.89 lưu hành theo hướng Tỉnh lộ 7 – đường STX. Khi đến ngã tư nơi đường giao nhau không có vòng xuyến giữa đường Tỉnh lộ 7 – đường STX với Quốc lộ 1A tại Km 1408 + 950, thôn N, xã A, thị xã H, khi đang điều khiển xe ôtô N nhìn thấy từ xa phía bên phải trên Quốc lộ 1A có xe môtô đang di chuyển theo hướng Ninh Hòa - Vạn Ninh, nhưng N không nhường đường cho xe môtô mà vẫn điều khiển xe ôtô đi ngang qua Quốc lộ 1A để xuống đường STX nên đã gây ra tai nạn làm Võ Thành Đ và Ngô Kim H đi trên môtô chết tại chỗ.
Theo biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường ngày 26/11/2016 thì nơi xảy ra tai nạn là ngã tư nơi giao nhau giữa Quốc lộ 1A với Tỉnh lộ 7 đi đường STX. Mặt đường nhựa phẳng, có dải phân cách cứng ở giữa được mở ra tại nút ngã tư. Sau tai nạn, xe ôtô 79C-060.89 dừng trên mặt đường nhựa của đường STX, đầu xe xoay về hướng Đông, đuôi xe xoay về hướng Tây. Trên mặt đường nhựa hướng Ninh Hòa – Vạn Ninh để lại vùng rơi có kích thước 2,70 x 1,40 mét, từ tâm vùng rơi đến mép vạch giới hạn làn xe bên phải là 1,50 mét, đến biển báo đường bộ “dừng lại” nằm bên trong Tỉnh lộ 7 là 31,40 mét.
Xe mô tô 60B2-22461 ngã nghiêng bên trái, đầu xe xoay về hướng Đông Nam, đuôi xe xoay về hướng Tây Bắc, từ tâm trục bánh xe trước và bánh xe sau đến mép vạch giới hạn làn xe bên phải là 7,70 mét và 8,95 mét.
Theo biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông ngày 26/11/2016, xe ô tô 79C-060.89 có các bộ phận bên phải gồm: Đèn tín hiệu phía sau bên phải bể vỡ hoàn toàn; khung sườn xe phía sau bên phải có vết mất bụi; xe mô tô 60B2-224.61 có các bộ phận gồm: cụm đèn chiếu sáng, đèn tín hiệu phía trước bể vỡ hoàn toàn, bửng chắn gió bên phải bị cong vênh từ trước ra sau.
Tại các bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 428 và 429-TT-TTPY ngày 02/12/2016 của Trung tâm pháp y tỉnh Khánh Hòa kết luận: Nguyên nhân tử vong của Võ Thành Đ là do đa chấn thương; nguyên nhân tử vong của Ngô Kim H là do chấn thương sọ não.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 33/2017/HSST ngày 26/6/2017 của Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa đã áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 202; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự; Điều 24 Luật giao thông đường bộ năm 2008; xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn N 03 (ba) năm tù về tội “Vi phạm quy đ nh về điều khiển phư ng tiện giao thông đường b ”.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 04/7/2017, bị cáo Nguyễn Tuấn N có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
ị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo và trình bày: Bị cáo mua xe ô tô 79C – 060.89 của ông Trần Văn S và bà Đặng Thị Kim H trước ngày bị cáo gây ra tai nạn (26/11/2016), nhưng hai bên chỉ làm giấy mua bán viết tay. Sau khi xảy ra tai nạn, hai bên mới làm hợp đồng mua bán xe vào ngày 05/12/2016 tại Văn phòng công chứng Hoàng Long (số 21B Nguyễn Chánh, Nha Trang). Trước đây, xe này ông S và bà H mua tại Phan Rang nên có biển số 85T-3020, sau đó mới làm lại giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô và đổi biển số thành 79C-060.89. Khi xảy ra vụ tai nạn này, bị cáo chưa làm lại thủ tục sang tên và giấy chứng nhận kiểm định xe. Giấy chứng nhận kiểm định số KA 3066159 (biển số 85T-3020) mà Cơ quan điều tra thu giữ, thực chất là của xe ô tô 79C-060.89 (khi đã đổi biển số).
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại vì việc điều tra ở cấp sơ thẩm không đầy đủ. Với lý do: Tại thời điểm xảy ra tai nạn xe ô tô 79C – 060.89 thuộc quyền sở hữu của vợ chồng ông Trần Văn S và bà Đặng Thị Kim H. Trước thời điểm xảy ra vụ tại nạn, Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số KA 3066159 (đã hết hiệu lực), nên không đủ điều kiện lưu hành. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử các cơ quan tố tụng cấp sơ thẩm không tiến hành lấy lời khai của vợ chồng ông S và bà H, để làm rõ trước khi xảy ra tai nạn, ông S và bà H có thuê Nguyễn Tuấn N lái xe hay không để xem xét trách nhiệm hình sự của ông S và bà H theo Điều 204 Bộ luật hình sự. Đồng thời, xác định tư cách tham gia tố tụng của ông S và bà H.
ư
NH N Đ NH ỦA HỘI Đ NG T :
Trên c s n i dung v án, căn cứ vào các tài liệu có trong h s v án đã đư c thẩm tra, x t h i, tranh lu n tại phiên tòa phúc thẩm; H i đ ng x t x nh n th y như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo còn trong thời hạn luật định, nên nội dung kháng cáo của bị cáo được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung: Tại phiên tòa, bị cáo vẫn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, nên có cơ sở xác định:
Lúc 13 giờ 15 phút ngày 26/11/2016, bị cáo có bằng lái xe hạng FC do Sở giao thông vận tải tỉnh Khánh Hòa cấp ngày 16/11/2015 có giá trị đến ngày 16/11/2020, điều khiển xe ô tô biển số 79C-060.89 đến ngã tư nơi đường giao nhau không có vòng xuyến giữa đường tỉnh lộ 7 – đường STX với Quốc lộ 1A tại Km 1408 + 950, thôn N, xã A, thị xã H. Mặc dù, bị cáo đã nhìn thấy từ xa phía bên phải trên Quốc lộ 1A có xe môtô do anh Võ Thành Đa chở anh Ngô Kim H đang di chuyển theo hướng Ninh Hòa - Vạn Ninh đi tới, nhưng bị cáo đã không giảm tốc độ, nhường đường cho xe mô tô, mà vẫn điều khiển cho xe ô tô của mình băng ngang qua Quốc lộ 1A để xuống đường STX. Khi xe ô tô của bị cáo chạy qua gần hết phần đường của người bị hại, thì đuôi xe ô tô bên phải của bị cáo đã va chạm với xe mô tô của người bị hại, làm anh Võ Thành Đ và Ngô Kim H ngã xuống đường và tử vong.
Tại thời điểm xảy ra tai nạn giao thông, theo biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông và bản ảnh thể hiện: Xe ô tô gây tai nạn mang biển số 79C-060.89, do chính bị cáo điều khiển. Lỗi của bị cáo trong trường hợp này là khi đi đến đoạn đường giao nhau không có báo hiệu đi theo vòng xuyến, lại không giảm tốc độ nhường đường cho xe (người bị hại) đi tới từ bên phải, mà điều khiển xe băng qua đường nên gây ra tai nạn làm chết hai người, nên đã vi phạm Điều 24 Luật giao thông đường bộ.
Như vậy, cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy đ nh về điều khiển phư ng tiện giao thông đường b ” theo điểm a khoản 2 Điều 202 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị hủy bản án sơ thẩm để làm rõ một số nội dung như trên đã nêu; Hội đồng xét xử thấy rằng:
Thời điểm xảy ra vụ tai nạn, ông Trần Văn S và bà Đặng Thị Kim H vẫn còn là chủ sở hữu chiếc xe ô tô 79C-060.89, nhưng nguyên nhân chính gây ra tai nạn là do lỗi bất cẩn, chủ quan của bị cáo chứ không phải do phương tiện tham gia giao thông không đảm bảo an toàn kỹ thuật dẫn đến tai nạn giao thông.
Việc bị cáo chưa làm lại Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số KA 3066159 (đã hết hiệu lực) cũng chỉ là lỗi hành chính, vì đây không phải là nguyên nhân gây ra vụ tai nạn giao thông.
Theo biên bản giám định kỹ thuật của Cơ quan cảnh sát điều tra ngày 22/12/2016 và văn bản trả lời của Sở giao thông vận tải ngày 03/01/2017 về tình trạng an toàn kỹ thuật của xe ô tô 79C-060.89: “Xe có đầy đủ trang thiết b an toàn kỹ thu t theo đúng như nhà sản xu t, hoạt đ ng bình thường, có hiệu lực. Trước thời điểm xảy ra tai nạn giao thông, gi y chứng nh n kiểm đ nh ATKT và BVMT phư ng tiện giao thông đường b của xe ô tô biển số 79C-060.89 đã hết hiệu lực, nên xe không đủ điều kiện để lưu hành trên đường giao thông.”. Do đó, không cần thiết phải làm rõ nội dung ông S và H có thuê bị cáo lái xe hay không, để xem xét trách nhiệm hình sự của ông S và bà H theo Điều 204 Bộ luật hình sự như đại diện Viện kiểm sát đề nghị.
Mặt khác, sau khi gây ra tại nạn bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại để khắc phục hậu quả cho gia đình những người bị hại và được người đại diện hợp pháp của người bị hại của anh Võ Thành Đ và anh Ngô Kim H bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không yêu cầu giải quyết trách nhiệm dân sự.
Trong vụ án này, tuy cấp sơ thẩm xác định không đúng tư cách người tham gia tố tụng của ông Trần Văn S và bà Đặng Thị Kim H, lẽ ra phải xác định là bị đơn dân sự chứ không phải là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên, sau khi xét xử sơ thẩm, người đại diện hợp pháp của người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông S bà H không có ai kháng cáo về phần trách nhiệm dân sự. Vì vậy, vấn đề này chỉ cần rút kinh nghiệm ở cấp sơ thẩm.
Do vậy, không cần thiết phải hủy bản án sơ thẩm để điều tra làm rõ những nội dung như đại diện Viện kiểm sát đề nghị.
Xét yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo:
Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, tham gia giao thông nhưng lại không chấp hành đúng Luật giao thông đường bộ, gây ra hậu quả rất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo không những gây thiệt hại về tính mạng con người, mà còn làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an toàn giao thông đường bộ, nên phải xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật.
Khi quyết định hình phạt cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ tình tiết định khung tăng nặng và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Tuy nhiên, sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã cung cấp thêm một số tài liệu thể hiện gia đình bị cáo có công với cách mạng và đất nước, ông nội của bị cáo là liệt sĩ nên áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 46 và Điều 47 Bộ luật hình sự đối với bị cáo và giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà yên tâm cải tạo.
Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
[3] Về án phí: Vì yêu cầu kháng cáo của bị cáo được chấp nhận, nên bị cáo không phải chịu án phí Hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 248; điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật tố tụng hình sự.
YẾT Đ NH
[1] Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tuấn N; Sửa bản án sơ thẩm.
- Áp dụng Điểm đ khoản 2 Điều 202; Điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Tuấn N;
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tuấn N 02 (hai) n m 06 (sáu) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
[2] Bị cáo Nguyễn Tuấn N không phải nộp án phí Hình sự phúc thẩm.
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Sở Tư pháp tỉnh Khánh Hòa; - VKSND tỉnh Khánh Hòa; - TAND thị xã Ninh Hòa; - VKSND thị xã Ninh Hòa; - Công an thị xã Ninh Hòa; - Chi Cục THADS thị xã Ninh Hòa - Bị cáo; Lưu hồ sơ - | TM. HỘI Đ NG T Thẩm phán - hủ tọa phiên tòa Lê Thúy Phượng |