vanban.org

Bản án 128/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lai Châu, tỉnh Lai Châu Tuyên án 15/04/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Thào Thị Ch, phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: xử phạt bị cáo Thào Thị Ch 03 (ba) năm 05 (năm) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 25/11/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Thào Thị Ch - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Thào Thị Ch, phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3- LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 128/2026/HS-ST
Ngày 15- 4 - 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3- LAI CHÂU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Phan Hồng Ngoãn.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Đèo Văn Vĩnh và ông Lò Văn Chiên.

Thư ký phiên tòa: ông Đỗ Tiến Tùng – Thư ký, Tòa án nhân dân Khu vực 3- Lai Châu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3- Lai Châu tham gia phiên tòa: ông Phùng Văn Chử - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 4 năm 2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 3- Lai Châu, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 130/2026/TLST-HS ngày 24 tháng 3 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 132/2026/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2026 đối với bị cáo: Thào Thị Ch; Tên gọi khác: không có; sinh ngày: 09/3/1988, tại: xã Dào San, tỉnh Lai Châu; nơi cư trú: bản T T, xã D S, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: không biết chữ; Dân tộc: Mông; Giới tính: nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Thào A D , sinh năm 1953 và con bà Vàng Thị D (đã chết); Bị cáo đang chung sống như vợ chồng với Lý A T , sinh năm 1987, tại bản T T, xã D S, tỉnh Lai Châu; Con: 03 con; con lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 25/11/2025 đến ngày 28/11/2025 bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Phân trại tạm giam Phong Thổ - Trại tạm giam Công an tỉnh Lai Châu cho đến nay; có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: là bà Nguyễn Thị Nga, là trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lai Châu, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Chiều ngày 24/11/2025, Thào Thị Ch, sinh ngày 09/3/1988, trú tại bản T T, xã D S, tỉnh Lai Châu đi bộ từ nhà lên nương của gia đình tại bản Khoa San, xã Dào San để đào sắn. Trên đường đi, Ch gặp và mua của một người đàn ông không rõ lai lịch 04 gói Heroine (đều gói bằng mảnh nilon màu xanh) giá 200.000 đồng, mục đích để sử dụng. Mua được Heroine, Ch tiếp tục đi lên lán nương ngủ qua đêm. Trưa ngày 25/11/2025, Ch cầm 04 gói Heroine trong lòng bàn tay trái rồi đi bộ từ lán nương về nhà. Hồi 12 giờ cùng ngày, khi Thào Thị Ch đang đi trên đường thuộc bản Khoa San, xã Dào San thì bị Công an xã Dào San, tỉnh Lai Châu bắt quả tang, thu giữ của Ch 04 gói Heroine.

Tại bản Kết luận giám định số 949 ngày 27/11/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: số chất bột, màu trắng thu giữ của Thào Thị Ch có tổng khối lượng 0,32 gam, là ma tuý, loại Heroine.

Tại bản Cáo trạng số: 07/CT-VKSLC-KV3 ngày 24 tháng 3 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3- Lai Châu đã truy tố ra trước Tòa án nhân khu vực 3- Lai Châu để xét xử bị cáo Thào Thị Ch, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo Thào Thị Ch, phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Thào Thị Ch từ 03 năm 01 tháng đến 03 năm 07 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 25/11/2025). Về hình phạt bổ sung: bị cáo là lao động tự do, có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Về vật chứng: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự. Tịch thu, tiêu huỷ: 04 mảnh nilon màu xanh, 01 phong bì niêm phong thu giữ vật chứng ban đầu đã mở, đây là vật chứng của vụ án, do không có giá trị sử dụng; đối với 0,32 gam Heroine thu giữ của Thào Thị Ch, Cơ quan điều tra đã gửi toàn bộ giám định chất ma túy (không hoàn lại mẫu vật sau giám định). Về án phí: căn cứ Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Người bào chữa trình bày luận cứ bào chữa cho bị cáo: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử tại phiên tòa, bị cáo Thào Thị Ch luôn thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo lần đầu phạm tội; bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên nhận thức pháp luật còn có phần hạn chế nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tại điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 để giảm nhẹ hình phạt thấp nhất của khung hình phạt cho bị cáo; bị cáo làm nghề lao động tự do và thu nhập không ổn định, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự và đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14; về vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử, xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố, lời khai của bị cáo phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp các tài liệu trong hồ sơ vụ án. Bị cáo không bổ sung ý kiến gì thêm, nhất trí với luận cứ bào chữa của người bào chữa cho bị cáo và không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân.

Đối đáp của Kiểm sát viên: Người bào chữa đề nghị HĐXX áp dụng Điều 50 BLHS cho bị cáo là có căn cứ pháp luật, vì bị cáo không có tiền án, tiền sự, là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, không được đi học nên không biết chữ, Kiểm sát viên đồng ý với người bào chữa. Tuy nhiên, đối với đề nghị xử phạt bị cáo mức thấp nhất của khung hình phạt. Nội dung này Kiểm sát viên không nhất trí, vì tội phạm ma túy trên địa bàn hiện nay còn nhiều tiềm ẩn và diễn biến phức tạp, cần phải xử lý nghiêm đối với loại tội phạm này. Bản luận tội của Viện kiểm sát đã đánh giá đầy đủ, toàn diện chứng cứ, tính chất nghiêm trọng của vụ án và hậu quả, tác hại do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra cho xã hội cũng như tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Do đó, mức án Kiểm sát viên đề nghị là phù hợp, đề nghị HĐXX xem xét, quyết định.

Lời nói sau cùng của bị cáo: bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và xin được miễn án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của mình theo quy định tại Điều 37, Điều 42 của Bộ luật Tố tụng hình sự; các tài liệu, chứng cứ được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đều là hợp pháp. Người bào chữa đã thực hiện đúng quyền hạn và trách nhiệm của mình theo quy định tại Điều 73 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đánh giá chứng cứ, yêu cầu, đề nghị của Kiểm sát viên, hành vi của bị cáo: tại phiên tòa, bị cáo Thào Thị Ch đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, chứng cứ đã thu thập đúng trình tự, thủ tục tố tụng hình sự; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Hồi 12 giờ 00 phút ngày 25/11/2025, tại bản Khoa San, xã Dào San, tỉnh Lai Châu, Thào Thị Ch đang thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 04 gói Heroine có tổng khối lượng 0,32 gam, mục đích để sử dụng thì bị Công an xã Dào San, tỉnh Lai Châu bắt quả tang.

Bị cáo Thào Thị Ch là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy, làm ảnh hưởng đến hình hình an ninh, trật tự trên địa bàn các xã, phường, tỉnh Lai Châu. Bị cáo hoàn toàn nhận thức được hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật và sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật hình sự. Hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự với lỗi cố ý trực tiếp.

Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, áp dụng điều khoản cũng như hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, phù hợp với nhân thân của bị cáo nên được chấp nhận.

Quan điểm của người bào chữa tại phiên tòa về việc đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng quy định của pháp luật, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử lý vật chứng, miễn án phí đối với bị cáo là có căn cứ, phù hợp với nhân thân nên cần được chấp nhận. Đối với đề nghị xử phạt bị cáo mức thấp nhất của khung hình phạt, xét thấy tội phạm ma túy trên địa bàn còn nhiều diễn biến phức tạp nên cần xử lý nghiêm hành vi phạm tội của bị cáo theo quy định của pháp luật nên nội dung này không được HĐXX chấp nhận.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo Thào Thị Ch không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Thào Thị Ch thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Vì vậy bị cáo được hưởng những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra HĐXX còn xem xét tới nhân thân để giảm nhẹ một phần hình phạt theo quy định tại Điều 50 Bộ luật Hình sự cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo làm nghề lao động tự do và thu nhập không ổn định, gia đình bị cáo khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự. Tịch thu, tiêu huỷ: 04 mảnh nilon màu xanh bị cáo dùng để gói ma túy, 01 phong bì niêm phong thu giữ vật chứng ban đầu đã mở, đều không có giá trị sử dụng; đối với 0,32 gam Heroine thu giữ của Thào Thị Ch, Cơ quan điều tra đã gửi toàn bộ giám định chất ma túy (không hoàn lại mẫu vật) nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: theo quy định tại Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo Thào Thị Ch là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn. Tại phiên tòa bị cáo có ý kiến xin được miễn án phí hình sự sơ thẩm nên Hội đồng xét xử quyết định miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Về quyền kháng cáo: Theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Về trách nhiệm của chính quyền địa phương: thông qua vụ án này, đề nghị cấp chính quyền địa phương các xã, phường, tỉnh Lai Châu cần nâng cao tuyên truyền, giải thích cho người dân có ý thức chấp hành tốt các chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Tăng cường đấu tranh phòng chống tệ nạn ma túy và có các biện pháp giữ gìn trật tự an ninh trên địa bàn.

* Các vấn đề liên quan: Về nguồn gốc ma túy, bị cáo Thào Thị Ch khai mua của một người đàn ông không rõ lai lịch, do đó Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Sau khi bắt Thào Thị Ch, Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra ma túy trong nước tiểu Ch, kết quả dương tính. Tuy nhiên, Ch không thuộc một trong các trường hợp từ điểm a đến điểm d khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự nên không phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249 ; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, đối với bị cáo.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Thào Thị Ch, phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: xử phạt bị cáo Thào Thị Ch 03 (ba) năm 05 (năm) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 25/11/2025.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu huỷ: 04 mảnh nilon màu xanh, 01 phong bì niêm phong thu giữ vật chứng ban đầu đã mở.

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản vào hồi 16 giờ 00 phút, ngày 10/4/2026 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lai Châu và Phòng thi hành án dân sự khu vực 3- Lai Châu).

4. Về án phí sơ thẩm: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

5. Về quyền kháng cáo: bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ